Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - cách mạng và tổng quan về di tích lịch sử - cách mạng trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chương 2: Thực trạng quản lý di tích lịch sử - cách mạng trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử - cách mạng trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - CÁCH MẠNG VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA 1.
Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - cách mạng 1. Một số khái niệm 1. Di tích Di tích là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới. Tại Đại hội quốc tế lần thứ hai các kiến trúc sư và các kỹ thuật gia chuyên về di tích, họp tại thành phố Venice từ ngày 25 - 31/5/1964 đã thông qua Hiến chương Venice, theo đó di tích được hiểu: “Không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một sự tiến hóa có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử”.
Theo "Đại Từ điển tiếng Việt" thì “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử” [46]. Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa 2009 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Trong đó, Danh lam thắng cảnh được hiểu “là cảnh quan t n hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan t n với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ khoa học”. Các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng.
Để được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cần phải đảm bảo các tiêu chí được quy định tại điều 28, chương IV, Luật Di sản Văn hóa: 11 - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. - Công trình xây dựng địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, của danh nhân đất nước. - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của thời kỳ cách mạng kháng chiến. - Quần thể các công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
Phân loại di tích được quy định tại Điều 11 Nghị định 98/2010/NĐ- CP hướng dẫn Luật di sản văn hóa và Luật di sản văn hóa sửa đổi như sau: - Loại hình di tích lịch sử. - Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật. - Loại hình di tích khảo cổ học. - Loại hình di tích danh lam thắng cảnh.
+ Loại hình di tích lịch sử bao gồm: những công trình địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; gắn với lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. + Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. + Loại hình di tích khảo cổ học là: cảnh quan t n hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan t n với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học. Theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích được chia thành 3 loại: Di tích quốc gia đặc biệt; Di tích quốc gia; Di tích cấp tỉnh.
12 Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Thủ tướng chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới Di tích quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL ra quyết định xếp hạng di tích Quốc gia Di tích cấp tỉnh: là di tích của địa phương. Địa phương lập hồ sơ trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở VHTT&DL, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Từ các khái niệm trên có thể khẳng định rằng di tích lịch sử - văn hóa là tài sản vô giá của mỗi cộng đồng, quốc gia dân tộc. Do đó, khi tiến hành công tác nghiên cứu, quản lý thì yêu cầu chủ thể phải tiếp cận cận một cách chân xác hệ thống giá trị của di sản văn hóa. Di tích lịch sử - cách mạng Trong Luật Di sản văn hóa cũng như các văn bản quản lý của nhà nước không có có khái niệm di tích lịch sử - cách mạng. Tuy n, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về loại hình di sản đặc biệt này: Theo Nguyễn Quốc Hùng: "Di tích cách mạng hay rộng hơn là di sản cách mạng (gồm cả di sản vật thể và di sản phi vật thể) là những bằng chứng vật chất và tinh thần phản ánh quá trình đấu tranh giành độc lập đất nước từ tay thực dân Pháp (1930 - 1945), các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), chống đế quốc Mỹ thống nhất đất nước(1954 - 1975), những cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam và quá trình xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 82 năm qua [46, tr.
13 Tiếp theo quan điểm của Nguyễn Quốc Hùng, Phạm Xanh quan niệm: "Di tích cách mạng là sự phản ánh quá trình đấu tranh của dân tộc từ những năm đầu thế kỷ XX khi các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, tức những hành động yêu nước mang tính chất cách mạng, muốn "phá cái cũ đổi ra cái mới…" [46, tr. Hay Trần Đức Nguyên cho rằng: "Di tích cách mạng kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa, tuy n, nó có những điểm khác biệt với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, những công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích [27]. Từ các nghiên cứu trên, tác giả luận văn cho rằng: di tích lịch sử cách mạng là một loại hình di tích đặc thù, là bộ phận cấu thành nên di sản văn hóa. Di tích này bao gồm hệ thống các di sản vật thể và phi vật thể, là những địa điểm, những công trình kiến trúc có sẵn, các công trình được con người sáng tạo ra,… gắn liền với những sự kiện, những nhân vật lịch sử cụ thể, trong đó, có sự phản ánh một phần hoặc toàn bộ quá trình đấu tranh cách mạng giành lại độc lập dân tộc cho đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Quản lý Thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo nghĩa thông thường, trong tiếng Việt thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, theo dõi; nếu hiểu theo nghĩa Hán -Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trông nom, coi sóc. Ở phương Tây, người ta dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay, tức là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt. 14 Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý ở một góc độ riêng nào đó thì chúng đều có những định nghĩa riêng về quản lý.
Khái niệm quản lý trong điều khiển học được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để điều khiển, chỉ đạo sự vận động của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt được những mục đích hay kế hoạch mà người quản lý đã đề ra từ trước. Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rõ bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý là một hoạt đông khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Đối với xã hội có trình độ phát triển càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai trò của quản lý ngày một tăng lên. Theo ý nghĩa thông thường, phổ biến, thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định. Với cách hiểu về khái niệm quản lý như đã trình bày ở trên, về mặt Nhà nước, quản lý bao gồm các yếu tố sau: + Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức.
Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. + Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.