CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Việc nâng cao chất lượng giáo dục từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm không chỉ của Việt Nam mà của tất cả các nước trên thế giới, nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Để nâng cao chất lượng giáo dục, vai trò quản lý giáo dục là hết sức quan trọng, đây là vấn đề luôn được các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước quan tâm. Trong lịch sử giáo dục, ở mỗi thời kỳ phát triển, dưới những góc độ khác nhau, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm ra các biện pháp, giải pháp quản lý hữu hiệu để xây dựng được nền giáo dục có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia và của thời đại.
Trên cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lý luận quản lý giáo dục và quản lý dạy học trong nhà trường. Các tác giả tiêu biểu như: Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Kiểm, Phạm Viết Vượng. Về mặt phương pháp dạy học Tiếng Việt, có một số tài liệu, tác giả đề cập đến như: - Một số vấn đề cơ bản của chương trình giáo dục tiểu học mới- Đỗ Đình Hoan [17]. - Tài liệu tham khảo cho giáo viên và CBQL giáo dục tiểu học về dạy học và phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Toán, Tiếng Việt- Bộ GD&ĐT [5].
- Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt- Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh. Tuy nhiên, những tài liệu này chỉ đề cập đến đặc trưng bộ môn Tiếng Việt hoặc phương pháp dạy học Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói chung. 6 Ngoài ra, cũng có một số luận văn thạc sỹ đề cập đến phương diện quản lý cấp cơ sở giáo dục quận, huyện như: - Các biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh – Trần Thị Sáu (2006) - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với trường tiểu học của Phòng giáo dục quận 11 thành phố Hồ Chí Minh- Nguyễn Thanh Tịnh (2006) - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiểu học của phòng GD&ĐT quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng- Đặng Minh Hằng (2009). Song, các đề tài trên chỉ đề cập đến mặt lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề dạy học chương trình tiểu học hoặc phương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung.
Như vậy, nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của vùng DTTS, tuy nhiên, các nghiên cứu mà chúng tôi được biết về quản lý dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học DTTS hầu như không có, nhất là tại địa bàn một tỉnh miền núi biên giới như ở Lào Cai. Nhưng những công trình nghiên cứu được đề cập ở trên là những tư liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài này. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội, nó xuất hiện rất sớm, ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá thể đơn lẻ, đòi hỏi phải có tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động.
Nó là một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu. Các Mác đã viết: “ Bất cứ một lao động xã hội nào hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định của sự quản lý. Quản lý xác nhập sự tương hợp giữa các công viêc cá thể nhằm hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động các bộ phận riêng rẽ của nó”.[22] 7 Như vậy, bản chất của quản lý lao động là một loại lao động để điều khiển lao động. Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng.
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau. Từ đó dẫn đến sự phong phú về các quan niệm quản lý. Sau đây là một số khái niệm của các tác giả trong nước và nước ngoài: +Theo tác giả H. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất”.
[22] + Theo tác giả Fayon (Pháp): “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. [13] + Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [31] + Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là môt quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. [27] + Tác giả Trần Kiểm khẳng định: “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”.
[21] Như vậy, tựu chung lại: Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích. Từ những các khái niệm về quản lý có thể rút ra một số dấu hiệu bản chất của quản lý như sau: 8 - Quản lý là hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội loài người, nó có vai trò điều khiển quá trình lao động và là phạm trù tồn tại khách quan, là tất yếu của lịch sử. - Quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một nhà nước. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tốn tại, vận hành và phát triển.
Chức năng quản lý Quản lý một thuộc tính gắn liền với xã hội nên có hai chức năng cơ bản: duy trì và phát triển. Để đảm bảo thực hiện được hai chức năng này, hoạt động quản lý bao gồm bốn chức năng cụ thể: - Lập kế hoạch; - Tổ chức thực hiện kế hoạch; - Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; - Kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch. Các chức năng này vừa mang tính độc lập tương đối, vừa liên quan mật thiết với nhau, tạo thành một chu trình quản lý: Sơ đồ 1.1: Quan hệ của các chức năng quản lý: Lập K.chức TH Điều hành 1. Các yếu tố của quản lý Quản lý bao giờ cũng tồn tại với 3 yếu tố: - Chủ thể quản lý: là con người hoặc tổ chức do con người tạo nên, có nhiệm vụ sử dụng các công cụ và phương pháp, đề ra biện pháp quản lý, thực hiện mục tiêu quản lý.
9 - Khách thể quản lý (đối tượng quản lý): Là cái mà chủ thể quản lý tác động vào (tập thể người, nhóm người.) để thực hiện mục tiêu quản lý. Ngoài ra, đối tượng quản lý còn có thể là các vật thể không phải là con người có sẵn trong tự nhiên hoặc do con mgười sáng tạo ra (cây trồng, vật nuôi, nhà xưởng, máy móc. - Mục tiêu quản lý: Chung cho cả đối tượng quản lý và chủ thể QL, là căn cứ để chủ thể QL tạo ra các tác động QL. Mục tiêu QL do chủ thể quản lý đặt ra hoặc yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội mà hình thành.
Mục tiêu có thể định lượng, nhưng cũng có lúc nó mang tính định tính theo chuẩn mực nào đó. Mục tiêu của QL là tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi thành viên có thể hoàn thành được mục đích, nhiệm vụ của mình, của nhóm với các giới hạn về thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít nhất. Các yếu tố của quản lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau và đều nằm trong một môi trường kinh tế xã hội bao gồm mặt bằng dân trí, giáo dục, tâm lý xã hội, phong tục tập quán, văn hoá, luật pháp, các tác động quốc tế. Môi trường này là nguồn thông tin và cũng là cái quyết định trình độ hiệu quả của quản lý.
Ta có thể nghiên cứu quá trình hoạt động quản lý thông qua sơ đồ: Sơ đồ 1.2: Quá trình hoạt động quản lý Công cụ QL Chủ thể Đối tượng Mục tiêu QL QL QL Phương pháp QL MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ 10 1. Biện pháp quản lý a) Biện pháp: Theo từ điển tiếng Việt: “ Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể. b) Biện pháp quản lý: Biện pháp quản lý là cách làm, cách giải quyết những công việc cụ thể của công tác quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. BPQL là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện những nhiệm vụ nhất định, để đạt mục đích đã đề ra.
BPQL một mặt xuất phát từ các quy luật kinh tế, quy luật tâm lý xã hội, quy luật tổ chức. và các nguyên tắc quản lý chung, mặt khác, còn thể hiện rõ tính năng động của chủ thể quản lý trong việc lựa chọn và phối hợp đúng đắn các BPQL. Thông thường người ta căn cứ vào các nội dung quản lý để đề ra BPQL phù hợp. Các BPQL thường sử dụng là: - Biện pháp tâm lý: Là biện pháp tác động vào nhận thức con người, làm cho con người nhận thức đúng nhiệm vụ, tự nguyện thực hiện yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp.
Đặc điểm của biện pháp này là dựa vào các quy luật tâm lý- xã hội để bồi dưỡng tình cảm, xây dựng lòng tin, ý chí nghị lực, tinh thần trách nhiệm trước tập thể, trước uy tín của tổ chức.