CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THỰC HÀNH Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội. Trong cuộc cách mạng đó, CNTT thực sự đã thâm nhập rộng khắp vào mọi hoạt động của con người, đưa đến những thành tựu to lớn trong việc tự động hóa các quá trình sản xuất công nghiệp, nâng cao chất lượng và hiệu quả của các ngành kinh tế, đẩy nhanh quá trình đổi mới tổ chức và quản lý kinh tế, tạo nên những chuyển biến cơ bản trong nền kinh tế, xã hội của mỗi đất nước. Trong những năm qua, CNTT Việt Nam đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ, CNNT thực sự đã là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ứng dụng rộng rãi CNTT là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động. Chiến lược phát triển ngành CNTT trong thời gian tới đòi hỏi ngành CNTT tiếp tục tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới xây dựng CNTT trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Để thực hiện được nhiệm vụ chiến lược đó, vấn đề phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng CNTT. Phát triển nguồn nhân lực CNTT phải gắn kết chặt chẽ với quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo nói chung và đổi mới quản lý giáo dục và đào tạo nói riêng ở các cơ sở đào tạo CNTT như các trường đại học, cao đẳng, trung cấp … là vấn đề hết sức quan trọng.
Về khoa học quản lý, trên thế giới đã xuất hiện những tư tưởng quản lý rất sớm từ thời Ai Cập cổ đại đến Trung Hoa cổ đại. Những tư tưởng của thời kỳ đó theo đánh giá của các nhà nghiên cứu hiện đại vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và đậm nét trong phong cách quản lý và văn hóa của nhiều quốc gia châu Á hiện nay: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam,… Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời nhất của con người. Sử gia Daniel A.Wren từng nhận xét “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy” và ông cũng ghi nhận rằng chỉ mới gần đây, người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và hình thành nên các “lý thuyết quản lý”. Từ thế kỷ XVIII, hàng loạt các thuyết quản lý ra đời mà ảnh hưởng của nó còn lưu dấu ấn đến các học thuyết và thực tiễn quản lý hiện nay.
Tiêu biểu của thời kỳ này đó là các thuyết quản lý của các nhà nghiên cứu nổi tiếng như: Adam Smith (1776), Eli Whitney (1800), Robert Owen (1771-1858), Charles Babbage (1792-1871), F.Taylor (1856-1915) được coi là “cha đẻ của lý thuyết quản lý khoa học”. Ở Việt Nam, khoa học quản lý tuy được nghiên cứu muộn nhưng tư tưởng về quản lý cũng như “phép trị nước an dân” đã có từ lâu đời. Các vua hiền tài đất Việt từ xa xưa đã biết lấy dân làm gốc trong việc quản lý đất nước “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Bình ngô Đại cáo – Nguyễn Trãi). Ngày nay, cùng với những thành tựu khoa học quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp quản lý dạy học của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục và các giáo sư, tiến sỹ giảng dạy ở các trường đại học viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã được công bố.
Tiêu biểu là các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc,. Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã giải quyết vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học quản lý như khái niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản lý, thành phần cấu trúc, chức năng quản lý, phương pháp và nghệ thuật quản lý. Trong các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án nhiều cán bộ quản lý giáo dục đã đề cập đến những vấn đề cụ thể trong công tác quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học, quản lý dạy học thực hành và đặc biệt 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong lĩnh vực quản lý đào tạo nghề được nhiều người quan tâm như: Nguyễn Lan Hương với đề tài “Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn Hà Nội hiện nay” (2007); Nguyễn Thị Mai với đề tài“Các biện pháp quản lý hoạt động thực tập của học sinh trường Trung cấp Kỹ thuật Tin học Hà Nội – ESTIH trong giai đoạn hiện nay” (2008); Đỗ Thị Thuỷ với đề tài “Biện pháp quản lý dạy học thực hành ngành công nghệ ô tô ở trường Cao đẳng nghề Phú Thọ theo tiếp cận năng lực thực hiện” (2010); Dương Trung Kiên với đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp” (2011). Các công trình nghiên cứu này, mỗi nhà nghiên cứu đứng trên các góc độ, bình diện khác nhau để tìm ra các biện pháp quản lý nhưng đều đi đến mục đích chung là nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong các trường dạy nghề.
Đứng trước nhu cầu thực tế của công việc quản lý đào tạo tại Trường Trung cấp Nghề Đồng hồ - Điện tử - Tin học Hà Nội, với nhiệm vụ tham gia đào tạo và phát triển nguồn nhân lực về CNTT, việc nghiên cứu biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nhóm nghề Công nghệ thông tin ở các cơ sở dạy nghề nói chung và tại Trường Trung cấp Nghề nói riêng là cần thiết. Tuy vậy cho đến nay, vấn đề quản lý hoạt động dạy học thực hành nhóm nghề Công nghệ thông tin ở các Trường Trung cấp Nghề vẫn chưa được trình bày thật đầy đủ, còn có khía cạnh chưa được nghiên cứu sâu, ứng với từng yếu tố của quá trình đào tạo. Vì vậy, việc nghiên cứu, khảo sát thực trạng, đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành nhóm nghề Công nghệ thông tin ở các Trường Trung cấp Nghề một cách khoa học, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng của từng đơn vị, từng vùng miền cần được đầu tư nghiên cứu cụ thể hơn. Do vậy tôi mạnh dạn nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học thực hành nhóm nghề Công nghệ thông tin ở Trường Trung cấp Nghề Đồng hồ - Điện tử - Tin học Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước hiện nay.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Quản lý Trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Đó là những hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung. Trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau, thực tế đã có nhiều cách diễn đạt về khái niệm quản lý: F.Taylor, người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đểu phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ”.
“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”. [6] Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích, của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức’. Hay rõ hơn thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.9] Tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là sự tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đặt được mục tiêu chung”.17] Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, vv. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách các nguyên tắc, phương pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho phát triển của đối tượng”.7-10] 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các diễn đạt về khái niệm QL trên đây, đều cho thấy những điểm chung như sau: - Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, hoạt động xã hội loài người.
Lao động QL là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. - Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội. - Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người QL và người bị QL, họ giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý. Về bản chất của hoạt động QL là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục đích chung.
Bản chất đó có thể được thể hiện ở Sơ đồ 1.1 dưới đây: CHỦ THỂ KHÁCH THỂ QUẢN LÝ QUẢN LÝ MỤC TIÊU QUẢN LÝ Nội dung Công cụ, quản lý phương pháp quản lý Sơ đồ 1.