CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC THEO PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Những nghiên cứu về dạy học theo phát triển năng lực học sinh Nhóm tài liệu này chiếm số lượng khá lớn, bao gòm chủ yếu là các sách chuyên khảo được xuất bản trong một vài năm trở lại đây. Đáng chú ý là tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2014) “Lý luận dạy học hiện đại. NXB Đại học Sư Phạm” có nói: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và trách nhiệm các hành động, giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trong các sự việc khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề ngiệp, xã hội hay cá nhận trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kinh nghiệm cũng như sự sẳn sàn hành động”. Hay trong quyển “ Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh ” của Tác giả Đổ Hương Trà (chủ biên) và cộng sự cung cấp một số cơ sở lý luận cần thiết về dạy học tích hợp theo phát triển năng lực.
Đồng thời, cuốn sách còn giới thiệu các chủ đề tích hợp với các mức độ tích hợp khác nhau, từ tích hợp ở mức độ lồng ghép/ liên hệ đến tích hợp ở mức độ hội tụ-vận dụng kiến thức liên môn, mức độ hoà trộn và tích hợp dựa trên các nguyên lý vận động, phát triển chung của giới tự nhiên. Tác giả Lê Đình Trung (chủ biên) và Phan Thị Thanh Hội với tác phẩm “Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông” cho rằng GV và HS trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa đang chịu nhiều sức ép và thách thức lớn mang tính thời đại; theo đó, giáo dục buộc phải thay đổi cách tiếp cận từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực để sản phẩm của đào tạo là HS phải “biết làm”, nghĩa là mang tính ứng dụng cao. Thế kỉ XXI, tri thức đến với HS từ nhiều nguồn đa dạng, phong phú; HS có thể tự học nếu biết được cách học. Giáo viên ở thế kỉ này phải có năng lực hướng dẫn cho HS, để HS tự tìm tòi lấy nội dung cần học và áp dụng vào thực tiễn không ngừng thay đổi.
Vì vậy, phát triển năng lực cho người học là mục tiêu cao nhất và cần thiết để người học có thể khẳng định được mình trong cộng đồng phức tạp, đa dạng và đổi thay, tạo ra thích ứng cao với mọi hoàn cảnh. 5 Ở Việt nam hiện nay vấn đề dạy học theo phát triển năng lực sớm đã được đưa vào nguyên lý GD trong nhà trường với phương châm “học đi đôi với hành”, GD kết hợp với lao động sản xuất, lý luận thường gắn liền với thực tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD ở gia đình và xã hội. Trong Chương trình GDPT tổng thể ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT đã nêu rõ định hương việc dạy học phải chú trọng phát triển năng lực HS. Chương trình này được xây dựng dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước với mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT: “Chương trình tổng thể 2018 đảm bảo phát triển về năng lực cũng như phẩm chất của người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kỹ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa của đức – trí – thể - mỹ; chú trọng việc thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng được học để giải quyết các vấn đề phát sinh trong học tập và đời sống; tích hợp nhiều ở các lớp học dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát huy được tính chủ động và tiềm năng của mỗi HS, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đó” (Thông tư 32/2018/TT – BGDĐT) 1.2 Các nghiên cứu về quản lý dạy học theo phát triển năng lực học sinh Trước yêu cầu đổi mới GD, cũng như đã có một số luận văn nghiên cứu về việc QL hoạt động dạy học như tác giả: Hoàng Anh Tuấn, “Quản lý hoạt động dạy học của các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ”; hay Nguyễn Xuân Huy với đề tài “Quản lý hoạt động dạy học theo hướng tiếp cận phát triễn năng lực cho HS ở các trường trung học cơ sở huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình”.
Những tác phẩm này đã đền cập đến một số khía cạnh trong việc QLGD nói chung và QL hoạt động dạy học nói riêng làm cơ sở cho Hiệu trưởng các trường tham khảo và áp dụng trong công tác QL của mình. Một số đề tài phân tích đến ưu và khuyết định của công tác QL hoạt động dạy – học ở trên lớp như vai trò và mối quan hệ giữa QL hoạt động dạy và hoạt động học, QL trách nhiệm của người dạy và người học, QL đổi mới từ nội dung đến phương pháp tổ chức thực hiện các loại hình hoạt động dạy học trên lớp, tiêu biểu như các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Hà Thế Ngữ… Trong các năm gần đây, thực hiện chủ trương đổi mới GD&ĐT nói chung cũng như đổi mới hoạt động dạy học nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục và các nhà tâm lý học đã có các nghiên cứu đi sâu vào vấn đề đổi mới QL hoạt động dạy và 6 học để nâng cao tính thực tiễn, gắn liền giữa lý luận và thực tiển đời sống xã hội và vấn đề lấy HS làm trung tâm trong hoạt động dạy học tiêu biểu như: Đặng Thành Hưng, Phạm Viết Vượng… Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trên tập trung vào hướng dẫn, chỉ đạo, vận dụng các kiến thức QL hoạt động dạy học phù hợp cho một số địa phương khác nhau. Cho đến thời điểm hiện nay, tại quận Bình Thạnh nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống về QL hoạt động dạy học theo phát triển năng lực HS. Vì thế, nghiên cứu QL dạy học theo phát triển năng lực HS là cần thiết và có ý nghĩa.2 MỘI SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục 1.1 Quản lý Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại.
Thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một khái niệm thống nhất. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm QL từ các góc độ khác nhau: F. Taylo (1856-1915), là người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: “Quản lý là biết được điều bàn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một số hiệu quả nhất và chi phí thấp nhất. Hoạt động quản lý ở bất kì tôt chức nào cũng điều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra dựa trên việc thu thập thông tin và xử lí chúng”.
Tác giả Trần Quốc Thành (2005) lại cho rằng: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi cũng như các hoạt động của con người nhằm đạt tới các mục tiêu đặt ra đúng với ý chí của nhà quản lý, phụ hợp với các quy luật khách quan”. Theo Đặng Quốc Bảo (2011): “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung”. Đặng Quốc Bảo (2011) Tác giả Đào Lan Hương (2015) cũng nhấn mạnh: “Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể QL đến đối tượng QL thông qua kế hoạch hóa tổ chức, kiểm tra, chỉ đạo, nhằm tiến đến mục tiêu QL”. Đào Lan Hương (2015) 7 Tác giả Trần Hồng Quân có viết: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức đạt được mục tiêu đề ra”.
Những quan điểm trên về QL của các tác giả tuy có điểm khác nhau về hướng tiếp cận nhưng đề có các điểm chung về QL: - Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL lên khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung. - Hiệu quả QL phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ QL. Như vậy QL là sự tác động của chủ thể QL đến khách thể QL một cách có tổ chức, có chủ đích làm cho tổ chức hoạt động để thực hiện mục tiêu ý muốn bằng sự quản lý, điều hành, chỉ đạo và kiểm tra. QL là tập hợp các tác động có tính quyết định của chủ thể QL đối với khách thể QL nhằm đạt được kết quả đề ra của tổ chức.
Cấu trúc hệ thống QL có thể biểu diễn qua sơ đồ đơn giản sau: Hình 1. Cấu trúc hệ thống quản lý Từ những cách tiếp cận về QL, chúng ta thấy khái niệm QL luôn tồn tại với tư cách là một chủ thể gồm 2 yếu tổ: Chủ thể QL và khách thể QL. Tác nhân tạo ra các hoạt động là chủ thể QL, còn người chịu sự QL của chủ thể QL là khách thể QL. Giữa chủ thể QL và khách thể QL phải có chung một mục tiêu và quy trình, dựa vào đó để làm căn cứu để chủ thể tạo ra các tác động.
Hai yếu tố này có mối quan hệ qua lại bổ trợ cho nhau. 8 Những định nghĩa nêu trên có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.2 Quản lý giáo dục Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD, một số quan niệm của các nhà nghiên cứu về vấn đề này như sau: M. Kondacov (1984) cho rằng: “Quản lý giáo dục là tập hợp các giải pháp kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tực phát triển, nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng”.