CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Platon (427 - 347 trước công nguyên) đã khẳng định được “vai trò tất yếu của giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chính trị đối với giáo dục, phần nào nói lên tầm quan trọng của thể chế xã hội đối với giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng, tuy rằng các quan điểm này của ông còn hạn chế về mặt bình đẳng trong giáo dục”. Khổng Tử (551 - 479 trước công nguyên) với quan điểm hoạt động dạy học là: “dùng cách gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ,… đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen học tập” và “học không biết chán, dạy không biết mỏi”.
Quan điểm của ông muốn mang lại hiệu quả “hoạt động dạy học phải đề cao đến các quy định về nề nếp hoạt động dạy học, nâng cao trình độ của người dạy để lựa chọn được những PPDH theo hướng đề cao năng lực tự học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học” [51]. Trong cuốn sách “Phát huy tích cực của HS như thế nào” [41, tr.Kharlamop đã khẳng định vai trò to lớn của tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới. Ông cho rằng “Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học bình thường các quy tắc, các kết luận khái quát hóa mà nó phải được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích logic sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hành thành các khái niệm khoa học. Sự vận động không ngừng của đời sống xã hội tất yếu dẫn đến sự đổi mới trong mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục.
HS là mục đích tồn tại của hoạt động giáo dục, HS phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường, GV không phải là người ban phát kiến thức, không phải là một vị quan tòa mà là một thành viên trong cộng đồng lớp học, có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích bằng việc cung cấp vật liệu, đầu mối, thông tin, gợi ý, tổ chức, 7 hướng dẫn,. để kích thích tư duy của người học, tức là GV có thể tạo một môi trường khuyến khích sự học tập, nghiên cứu. Muốn vậy, GV phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện. Nội dung giáo dục phải phản ánh sự phát triển theo sự phát triển của nhân loại, phải mang tính tăng tiến.
Chương trình giáo dục phải phù hợp, hiện đại theo sự phát triển chung của loài người. Phương pháp dạy học cũng phải gắn chặt với đối tượng và nội dung, phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em, của cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn (những người đã trưởng thành), bởi vậy không thể tách rời phương pháp ra khỏi nội dung, mục tiêu, chương trình giáo dục”. Từ cuối thế kỷ XIV, vấn đề hoạt động dạy học được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là J.Cômenxki (1592-1670) đã đưa ra những quan điểm về HĐDH mà chúng ta có thể vận dụng trong HĐDH 2 buổi/ ngày. Theo ông “quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên áp đặt, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc dạy học theo khả năng tiếp thu của HS (vừa sức); dạy học phải thiết thực và dạy học theo nguyên tắc cá biệt” [1].
Nhà giáo dục John.Dewey đã đề xuất thành lập nhà trường tích cực hướng vào người học, lấy quá trình học tập của người học làm trung tâm đặc biệt là lứa tuổi tiểu học (Learner centred); thực chất nhằm khuyến khích tính học tập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người học. Bởi hoạt động học là của cá nhân người học, trên cơ sở vận dụng kiến thức, phân tích kinh nghiệm để đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ học tập chứ không thể thụ động chờ đợi sự truyền đạt của người dạy. Hoạt động dạy học lấy người học làm trung tâm dựa trên hai nguyên tắc căn bản: đảm bảo tính liên tục của kiến thức và sự tác động qua lại của các thành viên. Hai nguyên tắc này liên hệ chặt chẽ với nhau, tính liên tục bao hàm các mối liên hệ của kiến thức; sự tác động qua lại giữa các thành viên tạo nên kết quả tổng hợp của người học với sự giúp đỡ của thầy và bạn, thống nhất giữa nhu cầu nhận thức, ý chí 8 cá nhân với tác động của môi trường, như hành vi của bạn bè, nghệ thuật giảng dạy của người dạy và những điều kiện học tập khác… Ông kêu gọi: “Nhà trường phải được tổ chức dưới hình thức một cộng đồng mang tính chất hợp tác để ở đó, nhiệt tình giao tiếp và tính cách dân chủ cho trẻ được bồi dưỡng và phát huy” [52].
Đây là tư tưởng cấp tiến, thể hiện rõ tính dân chủ, mang tính cách mạng trong giáo dục, hoạt động dạy học hướng vào người học; phát huy vai trò tích cực học tập giữa các cá nhân với cộng đồng khi thực hiện quá trình DH lúc bấy giờ. Các công trình của các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trước đây như M. Zimin, khẳng định rằng kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của người CBQL phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lí hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV. Các tác giả này đã đi sâu nghiên cứu quản lý quá trình giảng dạy trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý [Error! Reference source not found.
Đặc biệt, họ rất chú trọng việc trao đổi chuyên môn giữa CBQL và GV để đưa ra cách quản lí tốt nhất khi nhấn mạnh rằng, “những cuộc trao đổi này như đòn bẩy, đã nảy sinh ra những dự định mà sau này trong công tác quản lý được phát triển trong lao động sáng tạo của tập thể sư phạm” [Error! Reference source not found. Các tác phẩm này cũng đi sâu phân tích tầm quan trọng của công tác dự giờ và nghiên cứu bài học; chỉ ra trong hoạt động dạy của GV tình trạng yếu kém hiện nay. Trong đó, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của hoạt động quản lý dạy học trong nhà trường. Những nghiên cứu ở Việt Nam Tác giả Lê Hoàng Hà (2012) có nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành giáo dục học tại Học viện quản lý giáo dục với tên đề tài “Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hoá ở trường Tiểu học Việt Nam hiện nay” [27].
Cùng thời điểm năm 2012, tác giả Phạm Quốc Khánh đã thực hiện đề tài “Quản lí hoạt hoạt động dạy học theo hướng phân hóa ở Trường Tiểu học Chu Văn An, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”. Từ nghiên cứu cơ sở lý luận và hạn chế thực trạng, tác giả đã đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt hoạt động dạy học theo hướng phân hóa ở Trường Tiểu học Chu Văn An, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên [38] 9 Trong cuốn “Tiếp cận hiện đại trong dạy học” của tác giả Đỗ Ngọc Đạt đã đưa ra: “Dạy học không phải là chất đầy và một cái thùng rỗng mà là làm bừng sáng lên những ngọn lửa” [23, tr.56] Tác giả Phan Trọng Ngọ (2006) cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” đã trích lời của tác giả Claparet E: “Khơi dậy một nhu cầu học tập của HS; Khơi dậy phản ứng thích hợp của HS; Tiếp nhận những hiểu biết phù hợp để kiểm tra phản ứng ấy, điều khiển và hướng chúng đến mục đích đề ra” [47, tr. Tác giả còn nhấn mạnh đến nhu cầu và sở trường học tập của mỗi cá nhân HS. Theo đó, GV phải tạo cơ hội để HS phát huy được tính tích cực và tự lực của cá nhân.
Trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học” của Hà Sỹ Hồ đã đưa ra quan điểm của Socrates (469 - 399 TCN) đã đề xuất thực hiện phương pháp đàm thoại trong dạy học và được sử dụng cho đến ngày nay [23, tr.56] Quan điểm giáo dục của nhà giáo dục kiệt xuất Comenxki đã đưa ra quan điểm dạy học dân chủ, tích cực, kỷ luật trong môi trường dạy học tiểu học: “Đến thế kỷ XVII, nhà GD vĩ đại J.A Comenxki (1592 - 1670) và những người kế tục ông đã đưa ra những yêu cầu cải tổ GD theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Chính từ những quan niệm tiên tiến này, ngày nay, lý luận dạy học đã phát triển, hoàn thiện thành những những nguyên tắc dạy học tích cực. Người GV muốn thực hiện những nguyên tắc đó thì nhất thiết phải được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ thì mới đáp ứng được nhu cầu của người học. Ông đã phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đưa ra các biện pháp dạy học buộc học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật hiện tượng” [1, tr.
Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường, (2011), Lý luận dạy học hiện đại, Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, NXB Đại học Sư phạm. Trong cuốn này hai tác giả đã nêu rõ: “Giáo dục định hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học. Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp”. 10 Trần Thị Kim Dung, (2014), Đánh giá năng lực học sinh trong dạy học ở Trung học cơ sở - nhìn từ mục tiêu dạy học, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 106, (tháng 7/2014), tr18.