CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG THCS ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Việc nghiên cứu về kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh đã được xem xét từ nhiều góc độ cũng như khía cạnh khác nhau cho đến thời điểm hiện tại. Theo Trần Bá Hoành (Đánh giá trong giáo dục), đánh giá giáo dục là quy trình phân tích thông tin, so sánh với tiêu chuẩn, mục tiêu đã định, từ đó đưa ra nhận định, quyết định nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc.
Quá trình này không chỉ phản ánh kiến thức, kỹ năng, thái độ học sinh mà còn định hướng khắc phục điểm yếu, phát huy thế mạnh. Đánh giá đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện và điều chỉnh hoạt động giáo dục, hướng tới sự hoàn thiện. Các nhà nghiên cứu Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, trong công trình “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông”, đã phân tích khái niệm "kết quả học tập" (KQHT) như một lĩnh vực thường được nhìn nhận qua hai cách tiếp cận khác nhau trong thực tế và khoa học. Theo các tác giả, một quan điểm xem KQHT là mức độ thành tích mà người học đạt được, liên quan đến công sức, thời gian bỏ ra và mục tiêu cụ thể.
Quan điểm khác lại coi KQHT là mức độ thành tích của một học sinh so sánh với các bạn đồng trang lứa. Hai cách tiếp cận này lần lượt được hiểu là mức thực hiện tiêu chí (criterion) và mức thực hiện chuẩn [28]. Nghiên cứu của tác giả Lê Văn Hồng đã nêu các khái niệm cơ bản, cơ sở tâm lý và giáo dục đối với việc đánh giá, cùng với việc phân tích chi tiết các cấp độ trong thang đánh giá Bloom [18]. Trong sách “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập”, Dương Thiệu Tống đã hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến đo lường kết quả học tập, từ nguyên lý cơ bản, quy tắc viết câu hỏi trắc nghiệm, đến tổ chức và chấm thi.
Tác phẩm này được xem là một đóng góp quan trọng cho lĩnh vực đánh giá giáo dục tại Việt Nam [38]. 7 Công trình "Đánh giá và đo lường kết quả học tập" của tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã thiết lập một hệ thống toàn diện về lý thuyết, phương pháp và kỹ thuật đánh giá giáo dục. Đáng chú ý, nghiên cứu của bà còn trình bày cụ thể quan điểm về việc đánh giá dựa trên năng lực [29]. Tài liệu "Lý thuyết và thực hành về đo lường và đánh giá trong giáo dục" của Lâm Quang Thiệp [37] nhấn mạnh vai trò thực tiễn của phương pháp định lượng trong đánh giá giáo dục, một phương pháp được ứng dụng phổ biến.
Nghiên cứu của Nguyễn Thành Ngọc Bảo về "Đánh giá theo năng lực: Khái niệm và ứng dụng trong đánh giá năng lực ngữ văn" đã làm sáng tỏ khái niệm đánh giá năng lực, đồng thời đề xuất các hình thức đánh giá cụ thể. Tác giả cho rằng, đánh giá năng lực cần tập trung vào hoạt động thực tiễn và khả năng vận dụng kiến thức của học sinh. Trọng tâm này phản ánh sự chuyển dịch từ đánh giá kiến thức thuần túy sang đánh giá năng lực tổng hợp. Đồng thời, Nguyễn Công Khanh cùng cộng sự trong công trình “Đánh giá trong giáo dục” đã nhấn mạnh việc xây dựng phương pháp đánh giá hướng tới phát triển năng lực của học sinh.
Các nội dung được thảo luận bao gồm kiểm tra, lý do cần đánh giá năng lực, cũng như các hệ thống năng lực cơ bản cần phát triển ở học sinh Việt Nam hiện nay [21]. Cuối cùng, nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan Phương, Dương Văn Hưng, Nguyễn Đức Minh và Nguyễn Lê Thạch, qua nghiên cứu “Đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, đã đề xuất một khung đánh giá KQHT gồm 6 thành tố: nguyên tắc đánh giá, nội dung đánh giá, hình thức đánh giá, phương pháp đánh giá, báo cáo sự phát triển và thành tích học tập, cũng như sử dụng đánh giá để cải thiện chất lượng giáo dục. Nghiên cứu này còn nhấn mạnh việc ứng dụng khung đánh giá để: hỗ trợ thiết kế chương trình giảng dạy định hướng theo năng lực; hỗ trợ hiệu trưởng và giáo viên trong việc phát triển chương trình nhà trường; cũng như hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc giám sát chuẩn đầu ra của chương trình [33]. Những nghiên cứu về quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh Tác giả Nguyễn Đức Chính và Đinh Thị Kim Thoa (2004) đã nghiên cứu về quản lý đánh giá theo tiếp cận chuẩn đánh giá, chỉ rõ vai trò của việc xác định mục 8 tiêu trong đánh giá kết quả dạy học, đề ra biện pháp quản lý trong chỉ đạo thực hiện những yêu cầu về nội dung đánh giá đòi hỏi tích hợp kiến thức đồng môn, liên môn, sáng tạo, liên hệ thực tiễn [7] Trần Đăng An, trong bài viết “Quản lý hoạt động đánh giá KQHT ở trường THPT miền núi, Quảng Trị”, đề xuất quy trình quản lý KQHT gồm các giai đoạn: lập kế hoạch, triển khai, giám sát, và đảm bảo điều kiện hỗ trợ.
Ngoài hai công trình trên, nhiều luận văn và luận án cũng đã đi sâu vào nghiên cứu về quản lý hoạt động kiểm tra và đánh giá trong giáo dục. Các công trình khác cũng góp phần vào lĩnh vực này, bao gồm: phân tích hệ thống quản lý đánh giá học sinh THCS tại Thuận Thành, Bắc Ninh (Nguyễn Hữu Hoán, 2014); đánh giá dựa trên năng lực tại trường THCS Phương Đông, Quảng Ninh (Đặng Thị Ánh Tuyết, 2015); đánh giá tại các trường THCS ngoài công lập Hạ Long, Quảng Ninh (Đinh Văn Nghiêm, 2015); và cuối cùng là nghiên cứu về đánh giá định hướng năng lực ở các trường THCS Đại Từ, Thái Nguyên (Ngô Thị Thanh Huệ, 2019). Những nghiên cứu này đa dạng về phạm vi địa lý và phương pháp tiếp cận, cùng bổ sung kiến thức toàn diện về quản lý và nâng cao hiệu quả đánh giá học tập ở cấp THCS. Mỗi nghiên cứu đều đóng góp quan trọng vào việc hoàn thiện khung đánh giá học sinh THCS.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều đóng góp vào việc chỉ ra khung lý thuyết cơ bản và phân tích một cách chi tiết các khía cạnh liên quan đến quản lý và đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS dưới những góc độ khác nhau. Do đó, nghiên cứu về hoạt động quản lý đánh giá KQHT không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống lý luận mà còn mang lại những ứng dụng giá trị cho thực tiễn quản lý giảng dạy tại các trường THCS, chẳng hạn như ở huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Những công trình nghiên cứu trên cung cấp nền tảng lý luận phong phú cũng như định hướng thực hành hữu ích cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý, khái niệm phổ biến xuyên suốt mọi lĩnh vực xã hội, mang tính đa dạng và phức tạp. Hiểu biết về quản lý phụ thuộc vào ngữ cảnh hoạt động và giai đoạn phát triển cụ thể. Sự phong phú của đối tượng quản lý tạo nên sự khác biệt 9 trong cách tiếp cận. Theo như quan điểm của Karold Koontz đã nêu, quản lý được xem như là một hoạt động thiết yếu với mục tiêu phối hợp nỗ lực giữa các cá nhân nahừm mục đích đạt được mục tiêu chung của nhóm.
Ông nhấn mạnh rằng mục tiêu cốt lõi của người quản lý là tạo ra một môi trường làm việc tối ưu, trong đó các thành viên có thể đạt được mục tiêu chung với chi phí thời gian, tài chính, nguồn lực vật chất và mức độ bất mãn cá nhân thấp nhất [23]. Trần Kiểm định nghĩa quản lý là quá trình tối ưu hóa nguồn lực nội, ngoại tổ chức (nhân sự, vật chất, tài chính) nhằm đạt hiệu quả mục tiêu. Ông nhấn mạnh vào sự tác động chủ động, phối hợp, điều tiết và khai thác tối đa các nguồn lực này. Bùi Minh Hiền bổ sung khía cạnh tổ chức và định hướng mục tiêu rõ ràng vào định nghĩa, nhấn mạnh vào sự tác động có chủ đích của người quản lý lên đối tượng quản lý để thực hiện mục tiêu đề ra.
Đồng quan điểm này, các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ nhấn mạnh rằng quản lý vừa là một quá trình định hướng vừa là một quá trình có mục tiêu, nơi hệ thống quản lý vận hành để đạt đến trạng thái mới mà người quản lý kỳ vọng [27]. Tổng kết các quan điểm, quản lý được xem là chu trình kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát hoạt động, hướng tới thành công mục tiêu tổ chức. Trong tác phẩm này, khái niệm quản lý được sử dụng như một quá trình hành động có kế hoạch, kiểm soát và có nguyên tắc để đạt được các mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả. Đánh giá, đánh giá kết quả học tập, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường trung học cơ sở Đánh giá Trong lĩnh vực giáo dục, “đánh giá” là một khái niệm đa dạng với các định nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào cấp độ, đối tượng hoặc mục tiêu cần đánh giá.
Thực chất, thuật ngữ này không chỉ đơn thuần đề cập đến việc đo lường mức độ kiến thức, kỹ năng hay thái độ mà người học đã đạt được sau một quá trình học tập, mà còn bao hàm việc đưa ra những nhận định và phán đoán qua một thang đo cụ thể. Đồng thời, hoạt động đánh giá tác động không chỉ đến người được đánh giá mà còn đến chính 10 người thực hiện đánh giá, thông qua việc cung cấp thông tin phản hồi nhằm điều chỉnh và cải thiện. Griffin, đánh giá được hiểu là việc xác lập giá trị của một sự kiện hoặc hiện tượng, trong đó bao gồm công tác thu thập thông tin để đưa ra đánh giá về một chương trình, sản phẩm, quy trình, mục tiêu hoặc khả năng ứng dụng của một giải pháp phục vụ các mục tiêu cụ thể. Trong khi đó, Savin nhấn mạnh rằng đánh giá không chỉ đơn thuần là công cụ đo lường mà còn là phương tiện hỗ trợ quản lý quá trình học tập của học sinh, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ trong giáo dục.
Savin cũng đề xuất hệ thống đánh giá 5 bậc dựa trên thang điểm từ 1 đến 5, tương ứng với các mức xuất sắc, tốt, trung bình, xấu và rất xấu.