Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Quản lý công tác học sinh, sinh viên ở các cơ sở đào tạo, các trường đại học và cao đẳng đã được nghiên cứu ở nhiều cấp độ, phương diện với mục đích là những tác động tới đối tượng được giáo dục, được đào tạo. Vì vậy, vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà quản lý nghiên cứu ở nhiều công trình, bài viết khác nhau. Các nghiên cứu ở nước ngoài Với quan điểm chính trị, quan điểm giáo dục, tôn giáo khác nhau và với các mức độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, nhưng vấn đề quản lý người học vẫn được quan tâm, lưu ý.
Các nghiên cứu về người học (là học sinh ở phổ thông, là sinh viên ở đại học - cao đẳng) chủ yếu tập trung vào việc hình thành, phát triển nhân cách phù hợp với mức độ tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng và tính chất của các mối quan hệ của người học đối với xã hội, với gia đình. Ở các nước Nga, Trung Quốc,. việc quản lý người học theo mô hình quản lý người học theo quan điểm của các nước của hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây. Tính chất tập trung, hành chính, bao cấp trong quản lý người học nói chung và đối với SV đã phát huy tác dụng trong một giai đoạn lịch sử tương ứng và hiện nay đang được đổi mới để phù hợp sự phát triển của nền kinh tế - chính trị của mỗi quốc gia, tiếp cận với quá trình hội nhập quốc tế.
Ở các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, công tác quản lý học sinh - sinh được xác định một cách chặt chẽ trong hệ thống công tác quản lý các cơ sở đào tạo dù là trường công lập, tư thục, của trung ương hay của địa phương. Bên cạnh những quy định có tính chất pháp lý đối với người học, công tác quản lý người học được thông qua các chương trình giáo dục chính trị. Bằng môn giáo dục công dân, các môn học được tích hợp và hoạt động trải nghiệm, hoạt động 7 xã hội, học sinh - sinh viên Nhật Bản được giáo dục về ý thức trách nhiệm của công dân, về phẩm chất của người viên chức, về ý thức công cộng (ý thức chấp hành giao thông, ý thức giữ gìn vệ sinh, ý thức đối với những người xung quanh,. Chính vì SV Nhật Bản được rèn luyện, giáo dục từ trong nhà trường, trở thành những công dân, những lao động có tinh thần trách nhiệm với đất nước, với xã hội, với cộng đồng mẫu mực, tiêu biểu nhất thế giới (dẫn theo Phạm Thanh Phú [16]).
Trên thực tế việc quản lý người học nói chung và SV trong các trường ĐH-CĐ của các nước trên thế giới đã có những quá trình phát triển từ lâu. Từ những kết quả nghiên cứu, những giải pháp, cách thức trong quản lý người học của các nước đó đã thể hiện quan điểm chính trị,quan niệm tôn giáo bản sắc văn hóa dân tộc, cũng như những tập quán, thói quen của xã hội. Đó cũng là cơ sở để trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, chúng ta chọn lọc những bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả công tác quản lý HSSV trong các trường ĐH-CĐ hiện nay. Các nghiên cứu ở Việt Nam Quan điểm và mục tiêu giáo dục ở Việt Nam là đào tạo những con người có đức, trí, thể, mỹ, việc quản lý người học trong nhà trường Việt Nam đã được quan tâm từ lâu.
Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba, và công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo hiện nay, là một vấn đề này được coi trọng, bổ sung, phát triển để phù hợp với từng giai đoạn. Vì vậy, công tác quản lý người học nói chung và quản lý SV nói riêng, đã được xem xét, nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau. Ngày 29 tháng 11 năm 2012, Bộ GD-ĐT đã ban hành Chương trình Công tác học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2012-2016, trong đó nhấn mạnh việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng 8 công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức chấp hành pháp luật, chăm sóc sức khỏe, thể chất, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội của SV. Đồng thời phải chuẩn hóa nội dung, phương pháp công tác SV ở các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng và trường trung cấp chuyên nghiệp; phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, năng động, sáng tạo của SV trong quá trình học tập và rèn luyện.
Tác giả Phạm Minh Hùng, trong bài viết “Phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” (số 98, tháng 11/2013) đã khẳng định, đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một phương thức đào tạo tiên tiến, được áp dụng rộng rãi trong các trường đại học trên thế giới, đòi hỏi sinh viên sự chủ động, sáng tạo, cũng như năng lực tự học tự nghiên cứu. Tác giả trình bày một số biện pháp nhằm phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: giao nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên; có các hình thức phù hợp để sinh viên báo cáo kết quả tự học, tự nghiên cứu của mình; bồi dưỡng phương pháp tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên; đổi mới phương pháp dạy học; tạo ra một môi trường tự học tự nghiên cứu thuận lợi cho sinh viên. Cũng trong số tạp chí nói trên, tác giả Nguyễn Thanh Phú, bàn về “Thực trạng nhận thức về đạo đức nghề nghiệp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Bình Phước”, [18] đã cho rằng, trường sư phạm là nơi đào tạo nguồn nhân lực cho giáo dục, hình thành nên nhân cách giáo viên “có đức, có tài”, “vừa hồng, vừa chuyên”; trong đó, đạo đức nghề nghiệp cần được hình thành trong suốt quá trình đào tạo ở trường sư phạm và tiếp tục tu dưỡng trong suốt cuộc đời giáo viên. Để giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên, trước hết cần hiểu thực trạng đạo đức nghề nghiệp của họ đang được hình thành như thế nào và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đó.
Tác giả Nguyễn Thanh Phú, trong bài viết “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo 9 dục” (số 84, tháng 9-2012) đã đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, phân tích về nội dung của đạo đức nghề nghiệp và đề xuất một số định hướng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm. [17] Một số đề tài, luận văn, luận án cũng đã đề cập đến công tác quản lý người học nói chung và quản lý SV ở trường CĐ-ĐH nói riêng. Tác giả Phan Thanh Phú (2010) đã nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý HSSV ở Trường Đại học Quảng Nam”. Trong đề tài của mình, tác giả đã đi sâu nghiên cứu các giải pháp tổng thể từ cơ sở vật chất, công tác nội ngoại trú nhằm giáo dục SV có ý thức tự giác chủ động trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện, không chỉ nắm vững kiến thức chuyên môn nghề mà còn nâng cao phẩm chất, đạo đức, tư tưởng, tác phong nghề nghiệp phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [16].
Tác giả Hoàng Thị Thu Hương (2011) đã nghiên cứu đề tài“Quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp nghề Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”. Đề tài chủ yếu nghiên cứu về các vấn đề xây dựng mục tiêu công tác HS theo định hướng nghề nghiệp đồng thời triển khai kế hoạch một cách tối ưu nhất trong việc quản lý công tác HS, nhằm giáo dục HS có ý thức tự giác chủ động trong học tập, tác phong nghề nghiệp phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [10]. Thực tế cho thấy, đã có công trình viết về vấn đề quản lý SV các trường ĐH-CĐ từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề “Quản lý công tác SV Trường Cao sư phạm trong bối cảnh đổi mới giáo dục”.
Vì vậy tôi chọn đề tài Quản lý công tác sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây trong bối cảnh đổi mới giáo dục làm luận văn tốt nghiệp. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý nhà trường Theo Từ điển tiếng Việt “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.Koontz, người sáng lập lý luận quản lý hiện đại, đã khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.Mác đã từng khẳng định rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau nhưng khái quát lại có thể diễn đạt như sau: Quản lý là hệ thống tác động có chủ định, phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động.