mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác ngƣời học trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trƣờng đại học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác ngƣời học trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trƣờng Đại học Hồng Đức. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác ngƣời học trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trƣờng Đại học Hồng Đức. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC NGƢỜI HỌC TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Công tác quản lý ngƣời học là một mảng lớn của công tác quản lý nhà trƣờng, do đó lĩnh vực này luôn đƣợc các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nƣớc, các trƣờng Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp quan tâm. Ở nước ngoài Đến đầu thế kỷ 20, hệ thống tín chỉ đƣợc áp dụng rộng rãi hầu nhƣ trong mọi trƣờng đại học Hoa Kỳ. Sau này, nhiều nƣớc lần lƣợt áp dụng hệ thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trƣờng đại học của mình: các nƣớc Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda… Tại Trung Quốc, từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống tín chỉ cũng lần lƣợt đƣợc áp dụng ở nhiều trƣờng đại học. 29 Bộ trƣởng đặc trách giáo dục đại học ở các nƣớc Liêm minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục đại học Châu Âu (European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ (European Credit Transfer System - ECTS) trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới.
Đào tạo theo học chế tín chỉ đƣợc xem là là phƣơng thức đào tạo “Tôn trọng ngƣời học, xem ngƣời học là trung tâm của quá trình đào tạo”. Bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ là sự tích lũy kiến thức đƣợc quy định trong các chƣơng trình đào tạo. Sự tích lũy đƣợc đánh giá bằng số tín chỉ tích lũy tối thiểu và điểm trung bình chung tích lũy tối thiểu quy định cho mỗi chƣơng trình để sinh viên có thể tốt nghiệp. 8 Trong quá trình thực hiện nhiều vấn đề về nội dung, cách thức của phƣơng thức đào tạo theo học chế tín chỉ đã đƣợc bổ sung, sửa đổi để phù hợp với đặc điểm mỗi vùng miền, mỗi thời kỳ lịch sử.
Song song với việc triển khai phƣơng thức đào tạo, công tác quản lý ngƣời học cũng đƣợc các trƣờng đại học các nƣớc quan tâm, cải tiến và hoàn thiện các quy trình. Các trƣờng đại học trên thế giới khi chuyển sang phƣơng thức đào tạo theo học chế tín chỉ cũng gặp phải những khó khăn nhƣ ở nƣớc ta nói chung, ở Trƣờng Đại học Hồng Đức nói riêng bởi đào tạo theo học chế tín chỉ hoàn toàn khác với đào tạo theo niên chế. Do đó, khâu nghiên cứu, cải tiến quy trình đào tạo và quản lý ngƣời học cũng đƣợc các trƣờng thực hiện ngay từ đầu. Trong đó, đã có một số công trình nghiên cứu để tìm ra các mô hình quản lý ngƣời học hiệu quả, sát với sứ mạng của các trƣờng nêu trên.
Tuy nhiên, do tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nƣớc một khác, đặc điểm của mỗi trƣờng đại học một khác, nên những quy trình, những cách thức của các nhà nghiên cứu thế giới đã làm không thể áp dụng đƣợc vào điều kiện của Việt Nam hiện nay. Ở trong nước Ngƣời học là nhân vật trung tâm của nhà trƣờng, là một trong những đối tƣợng quan trọng của quản lý giáo dục. Một trong các yêu cầu bức thiết đặt ra để nâng cao chất lƣợng đào tạo là quản lý ngƣời học nhƣ thế nào để đạt đƣợc hiệu quả và mục tiêu giáo dục đại học. Một số trƣờng đại học đã áp dụng phƣơng thức đào tạo theo học chế tín chỉ từ trƣớc năm 1975 nhƣ: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức.
Sau khi thực hiện đổi mới đất nƣớc từ cuối năm 1986 chuyển từ nền kinh tế tập trung kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa thì nền giáo dục nƣớc ta nói chung và giáo dục đại học nói riêng cũng thay đổi để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn. Năm 1987, Hội nghị Hiệu trƣởng các trƣờng đại học tại Nha Trang đã đƣa ra nhiều chủ trƣơng đổi mới giáo dục đại học, trong đó có chủ trƣơng triển khai trong các trƣờng đại học quy trình đào tạo 2 giai đoạn và modun- 9 hoá kiến thức. Theo chủ trƣơng đó, học chế học phần đã ra đời và đƣợc triển khai trong toàn bộ hệ thống các trƣờng đại học, cao đẳng từ năm 1988. Từ năm học 1993 - 1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến khích các trƣờng đại học cải tiến học chế học phần để có học chế học phần triệt để hơn, hay nói cách khác là áp dụng học chế tín chỉ kiểu Mỹ cho quy trình đào tạo đại học nƣớc ta.
Nơi đầu tiên thực hiện quá trình chuyển đổi này là trƣờng Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh ngay trong năm học 1993 - 1994, sau đó là các trƣờng Đại học Đà Lạt, Cần thơ, Thuỷ sản Nha Trang, trƣờng Đại học Xây dựng Hà Nội, Đại học Dân lập Thăng Long trong các năm học tiếp theo 1994 – 1995, 1995 - 1996. Năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định tạm thời số 31 về thí điểm đào tạo theo học chế tín chỉ. Năm 2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định số 43/2007/QĐ - BGD&ĐT [6] ngày 15 tháng 8 năm 2007 về “quy chế đào tạo đại học và cao đẳng theo học chế tín chỉ” và bắt đầu đƣợc áp dụng đại trà ở các trƣờng đại học, cao đẳng trong cả nƣớc vào năm 2008. Năm 2015, tất cả các trƣờng đại học, cao đẳng chuyển hoàn toàn sang đào tạo theo học chế tín chỉ.
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế Học sinh - sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở các trƣờng đại học, cao đẳng, vì vậy đã có sự thống nhất trong quản lý ngƣời học ở các cơ sở đào tạo. Việc nghiên cứu về quản lý công tác ngƣời học (quản lý công tác HSSV) ở các trƣờng Đại học, Cao đẳng đã đƣợc quan tâm. Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả nhƣ: - Năm 2004, tác giả Nguyễn Quốc Tú [34] nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý sinh viên ngoại trú của Đại học Quốc gia Hà Nội” đã xác định cơ sở lý luận của việc đề xuất các biện pháp quản lý HSSV ngoại trú của Đại học Quốc gia Hà Nội, khảo sát thực trạng các biện pháp quản lý HSSV ngoại trú ở các cơ sở đào tạo thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, đồng thời đề xuất một số biện pháp quản lý HSSV ngoại trú phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trƣờng. 10 - Năm 2008, tác giả Bùi Sỹ Đức [12] nghiên cứu “Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Yên Bái” đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về biện pháp quản lý sinh viên nội trú, khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp để quản lý sinh viên ở nội trú hiệu quả hơn.
- Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh [1] nghiên cứu “Xây dựng mô hình quản lí công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trƣờng đại học sƣ phạm trong giai đoạn hiện nay” (năm 2011) đã khẳng định: Giáo dục đạo đức cho sinh viên là một quá trình phức tạp đòi hỏi có sự tham gia của toàn xã hội. Mục tiêu của Giáo dục và Đào tạo là phát triển toàn diện, trong đó “đức dục, trí dục” là hai yêu cầu cơ bản có tính nền tảng. Muốn nâng cao chất lƣợng giáo dục thì khâu then chốt là phải nâng cao chất lƣợng quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên, phải tác động đến cả tập thể sinh viên và các lực lƣợng xã hội có vị trí quan trọng hàng đầu trong toàn bộ công tác đào tạo ở trƣờng đại học. Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề tài đã đề xuất mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trƣờng đại học sƣ phạm góp phần nâng cao toàn diện chất lƣợng giáo dục đạo đức cho sinh viên đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý công tác sinh viên của nhà trƣờng.
- Tác giả Đoàn Văn Sơn [26] đã nghiên cứu “Biện pháp quản lý sinh viên trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng trong đào tạo theo học chế tín chỉ” năm 2013 đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng, từ đó xây dựng một số biện pháp quản lý sinh viên góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trƣờng trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu của một số tác giả nêu trên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý HSSV và thực trạng quản lý HSSV ở một số trƣờng Đại học, Cao đẳng đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác HSSV. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về công tác quản lý ngƣời học trong đào tạo theo học chế tín chỉ vẫn là khoảng trống ở trƣờng Đại học Hồng Đức. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý - Khái niệm quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động khi xã hội phát triển. Quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động xã hội. Xã hội loài ngƣời đã trải qua nhiều chế độ chính trị xã hội khác nhau, mỗi chế độ có một phƣơng thức sản xuất khác nhau, phƣơng thức sản xuất sau thƣờng phát triển hơn phƣơng thức sản xuất trƣớc, con ngƣời thế hệ sau tiến bộ và văn minh hơn thế hệ trƣớc, kéo theo trình độ quản lý ngày càng cao làm cho năng suất lao động ngày càng tăng, xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ.
Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài ngƣời.