Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường Tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường Tiểu học huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông. Chương 3: Các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường Tiểu học huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông. NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về công tác chủ nhiệm, trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã nhấn mạnh vị trí, vai trò quan trọng của GVCN trong hệ thống giáo dục. Đồng thời cũng đã đặt ra các vấn đề làm thế nào phát triển đội ngũ GVCN trường tiểu học một cách có hiệu quả? Khi nói về vai trò của GVCN, tác giả Qi Shi & Leuwerke W.C Examination of Chinese homeroom teachers performance of professional school counselors‟ activities Asia Pacific Education Review Education Research Institute, Seoul National University. [33] viết, GVCN có vai trò rất quan trọng trong nhà trường và có ảnh hưởng lớn đối với HS.
Khi ai đó nhìn lại quãng thời gian đi học của mình, người đầu tiên họ nghĩ đến chính là GVCN của mình. Các tác giả cho rằng, GVCN ở trường tiểu học có các chức năng, nhiệm vụ chính sau đây: Lãnh đạo, tổ chức, quản lý lớp học mình chủ nhiệm theo đúng các quy định của nhà trường và nhà nước; Hướng dẫn, trợ giúp HS trong mọi mặt học tập và đời sống tinh thần, xã hội; Giáo dục đạo đức, kỷ luật, tư tưởng cho HS; Cùng chia sẻ mọi trách nhiệm nuôi dưỡng, dạy dỗ trẻ em với cha mẹ HS; Trợ giúp lãnh đạo nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch giảng dạy và các chính sách, biện pháp giáo dục; Thực hiện các chức năng tư vấn tâm lý, tình cảm nghề nghiệp, cuộc sống cho HS… Tác giả Rhodes L.N (1994), Homeroom teachers in Japan. National Forum, Winter 1994. Retrieved 4/11/2010 from http://findarticles.com [34] cũng cho rằng, làm GVCN là một công việc khó khăn và tốn nhiều thời gian, nhưng rất được tôn trọng trong nhà trường và trong xã hội; trong nhiều trường hợp GVCN và lớp chủ nhiệm tương tác như một gia đình lớn, do đó HS chịu ảnh hưởng đáng kể từ cách hành xử của GVCN.
Từ những khó khăn trong công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GVCN, các tác tác giả đã đề ra một số biện pháp trong các công trình nghiên cứu của mình. Đối với Ross McGill (2015), Six basic steps to becoming a brilliant form tutor, from '* http://www.com [35], để công tác CNL đạt hiệu quả, phải phát triển ở GVCN các năng lực sau đây: - Quản lý lớp: đảm bảo HS tuân thủ nội quy; kiểm tra chuyên cần của HS; tìm hiểu lý do dẫn đến việc vắng mặt, đi trễ của HS và phải chú ý đến việc này có lặp đi lặp lại không. - Tạo mối liên hệ với gia đình HS: tìm hiểu cách thức liên lạc với phụ huynh càng sớm càng tốt và cung cấp các thông tin cho phụ huynh một cách thường xuyên; việc liên lạc với phụ huynh phải áp dụng cho toàn bộ HS chứ không chỉ các trường hợp chưa hoàn thành, chưa đạt và đảm bảo không làm ảnh hưởng đến các công việc khác của GVCN. - Giải quyết những vấn đề rắc rối: nói chuyện riêng với HS đang gặp vấn đề khó khăn hoặc có biểu hiện, cư xử bất thường; hướng dẫn cho các em nhận lời tư vấn từ các nguồn thích hợp; liên hệ với cha mẹ các em hoặc báo cáo cho nhà trường nếu thấy có nguy cơ xảy ra các sự việc nghiêm trọng.
- Xây dựng mối quan hệ với các đồng nghiệp khác: khuyến khích các GV khác phản ánh tình hình HS lớp chủ nhiệm; tham khảo ý kiến của các GV khác về giáo dục HS chưa hoàn thành, chưa đạt. - Xây dựng truyền thống: phải làm sao để HS thấy chúng không phải là các cá nhân riêng lẻ được nhét chung vào một chỗ, mà là một tập thể thống nhất, trong đó mọi thành viên đều có thể đạt kết quả tốt, bất kể sức học của chúng như thế nào; phải làm cho lớp học như một gia đình mở rộng của GVCN. Như vậy, qua các công trình nghiên cứu nói trên, các tác giả đều thống nhất ở những chức năng, nhiệm vụ cơ bản của GVCN trường tiểu học, đó là quản lý toàn diện HS; xây dựng tập thể lớp vững mạnh; tư vấn tâm lý, giúp đỡ HS trong học tập và sinh hoạt; làm cầu nối giữa nhà trường với HS và phụ huynh. Những nghiên cứu ở trong nước Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về công tác GVCN còn chưa nhiều, tuy nhiên về lý luận quản lý công tác chủ nhiệm lớp cũng có một số công trình nghiên cứu sâu và đạt được nhiều thành quả.
Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả Nguyễn Văn Hộ [12], Nguyễn Dục Quang [21], Phan Thanh Long [18] đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của GVCN ở trường tiểu học. Với tác giả Phạm Minh Hùng, xuất phát từ những vấn đề đang nổi lên trong đời sống học đường của HS hiện nay, trong nghiên cứu “Đổi mới công tác GVCNL ở trường tiểu học hiện nay” [14] đã nêu lên 5 chức năng, nhiệm vụ của GVCN: GVCN là người tháo gỡ những “xung đột‟' trong các nhóm HS; GVCN là người định hướng dư luận cho tập thể lớp học; GVCN là người tư vấn tâm lý cho học sinh; GVCN là người định hướng giá trị cho HS. Trong cuốn “Tài liệu tập huấn về công tác giáo viên chủ nhiệm trường tiểu học” do tác giả Nguyễn Thanh Bình (Chủ biên) [4] cũng đã đề cập đến nhiều vấn đề như: chức năng, nhiệm vụ của người GVCN, các kỹ năng của người làm công tác chủ nhiệm. Cùng với các nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ của GVCN, một số tác giả cũng nghiên cứu về yêu cầu đối với GVCN trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả Hà Nhật Thăng trong cuốn “Một vài điểm mới cần lưu ý trong công tác CNL ở các trường hiện nay” [25] đã so sánh chức năng, nhiệm vụ của GVCN trước đây và hiện nay; từ đó chỉ ra những điểm khác biệt về chức năng, nhiệm vụ của GVCN trước đây và hiện nay, đó là: cố vấn cho HS trong tổ chức các hoạt động giáo dục; phối hợp với các lực lượng xã hội tạo điều kiện không gian, thời gian cho HS học tập, rèn luyện; giúp HS và tập thể lớp tự đánh giá quá trình rèn luyện theo mục tiêu giáo dục; phát hiện năng khiếu và sở thích của HS; kế hoạch hóa việc tổ chức bồi dưỡng, rèn luyện các kỹ năng cho HS, nhất là những kỹ năng sống; xây dựng Hội cha mẹ HS thành lực lượng tham gia trực tiếp vào các hoạt động của lớp chủ nhiệm. Tác giả Phạm Khắc Chương, Hồ Thị Nhật [7] cho rằng, GVCN trường phổ thông phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Có đạo đức nghề nghiệp; thường xuyên phải bồi dưỡng kiến thức văn hóa khoa học để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học trong xã hội hiện đại; có nhiệt tình và kỹ năng hoạt động xã hội; có khả năng hợp tác, đoàn kết thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ; bảo vệ sự tôn vinh của nghề thầy giáo. Các tác giả khác như Bùi Thị Loan, Nguyễn Thành Vân [15] đã đưa ra những yêu cầu đối với người GVCN trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay, đó là: Yêu nghề, yêu trẻ; lòng nhân ái, vị tha của người thầy giáo; rèn luyện kỹ năng hoạt động xã hội. Tác giả Hà Văn Hải [10] lại phác họa mô hình người GVCN trường tiểu học thời kì đổi mới giáo dục, với những yêu cầu về phẩm chất năng lực như sau: - Về phẩm chất: niềm tin vào cuộc sống và xã hội; sự đồng cảm với con người; có thế giới quan khoa học, có lý tưởng nghề nghiệp trong sáng, có lòng yêu nghề; công bằng và khéo léo đối xử sư phạm; có tình yêu thương HS và say mê nghề nghiệp; luôn là tấm gương sáng cho mọi người noi theo; tính cởi mở, lòng vị tha, chân thành; năng động trong cuộc sống; kiên định về đạo đức; tự chủ và tự kiềm chế; yêu cầu cao đối với bản thân và HS.
- Về năng lực: độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạt động sư phạm; chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng; thiết kế, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục. Ở một nghiên cứu gần đây, tác giả Mạc Văn Trang [27] đã đưa ra khung năng lực của người GVCN trường tiểu học, bao gồm: - Năng lực chuyên môn: nắm vững kiến thức cơ bản của môn học; biết thiết kế môn học, các phần, chương, các bài học theo logic phát triển để HS khám phá đối tượng; biết dạy cho HS cách học - tự học để chiếm lĩnh đối tượng một cách chủ động, tích cực; Biết dạy học phân hóa, chú ý đến HS chưa hoàn thành, chưa đạt; biết cách tổ chức HS học nhóm hiệu quả; biết tự học nâng cao trình độ. - Năng lực hiểu học sinh: có hiểu biết về đặc điểm sinh lí, tâm lí, xã hội của lứa tuổi HS; nắm vững phương pháp nghiên cứu đặc điểm HS; biết dự đoán sự phát triển của mỗi HS để có thể định hướng, tư vấn cho sự phát triển tối ưu ở mỗi em; biết rõ hoàn cảnh của HS chưa hoàn thành, chưa đạt. - Năng lực xây dựng tập thể lớp: biết cùng HS xác định sứ mệnh, mục tiêu và xây dựng kế hoạch phát triển của tập thể lớp; biết chọn ra được thủ lĩnh có uy tín thật sự đối với tập thể lớp; biết hướng dẫn cách làm việc cho cán bộ lớp; biết xây dựng bầu không khí tâm lý tích cực trong tập thể lớp.
- Năng lực giáo dục chưa hoàn thành, chưa đạt: hiểu được cá tính của từng HS; Biết được kiểu nhân cách của mỗi HS; Biết hoàn cảnh gia đình riêng tư của mỗi HS; Biết được năng lực học tập, sở trường và triển vọng của mỗi HS. - Năng lực tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục: biết phối hợp với các GV bộ môn để nắm được tình hình, kết quả học tập mỗi môn học của từng HS; Biết phối hợp với GVCN các lớp khác trong trường để tổ chức những buổi sinh hoạt chung trong khối lớp hay toàn trường; Biết phối hợp với các lực lượng giáo dục khác để giáo dục HS.