Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG TẠI TRƯỜNG TH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Khi nghiên cứu để đưa đưa nội dung GDĐP vào trong chương trình GD là trong những mong muốn của các nhà nghiên cứu để HS tiếp nhận những kiến thức thực tiễn một cách thiết thực, gần gũi và gắn với nền văn hoá của địa phương, lịch sử hình thành và phát triển của ĐP đó. Mỗi một địa phương, một dân tộc khác nhau sẽ hình thành nên những đặc điểm, bản lĩnh, nhân cách con người cũng khác nhau. Qua đó, HS sẽ hiểu rõ hơn về ĐP của mình, thực tế hơn trong cộng đồng dân cư, có trách nhiệm hơn với xã hội nơi mình sinh sống.
CT GDĐP còn là CT được thiết kế để phù hợp với nhu cầu đào tạo, GDcủa mỗi một ĐPcụ thể trong cả vấn đề trang bị cho HS vốn ngôn ngữ địa phương, văn học, lịch sử, địa lý,. nơi mình sinh sống, GV khi thực hiện CT GDĐP có trách nhiệm thực hiện CT GDĐP sẽ góp phần thúc đẩy và hình thành, khơi dậy cho HS niềm yêu thích, hứng thú tìm tòi, ý thức lưu giữ và phát huy văn hóa cộng đồng, bản sắc dân tộc của ĐP mình nói riêng và niềm tự hào dân tộc nói chung. Đây là điều kiện để hoàn thiện quá trình từ nhận thức đến tự nhận thức,. E-ren-bua đã nói: “lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê sẽ trở thành lòng yêu Tổ quốc” [15].
Chương trình GDĐP của John Dewey, một nhà giáo và triết gia người Mỹ, đã thiết kế CT GDĐP dựa trên nguyên lý tương tác giữa các hoạt động của HS với môi trường văn hoá, xã hội tại địa phương. Chương trình GDĐP của ông cũng tập trung vào việc giúp HS phát triển năng lực trong đó có năng lực tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Một số nhà nghiên cứu về GD trong thời kỳ cổ đại đã đề cập đến khái niệm ban đầu về những bài giảng trong quá trình GV dạy học. Thời Trung đại, CT GD phát triển thực hiện song song với các nghi lễ, tôn giáo do sự chi phối 5 của chủ nghĩa kinh viện và tôn giáo.
Đầu thế kỉ XX, Montessori với triết lý “GD thực nghiệm” [20] đã đưa ra quan điểm tạo dựng GDvà CTGD. Cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, quan niệm phát triển CT, CTGD NT có nhiều thay đổi. Ngoài chương trình được nhà nước ban hành, trên thực tế còn có những CTGD riêng do các địa phương, các NT chủ động thiết kế các module học tập, chủ đề học tập với ND riêng biệt, đặc thù, dựa trên thế mạnh của địa phương, NT đó. Về vấn đề CT GDĐP liên quan chặt chẽ đến các lí thuyết văn hóa gắn liền với khu vực - nơi mà trường học được đặt trên ĐPđó: Trước thế kỉ XV, Khu vực Châu Âu chưa có những phát kiến liên quan đến Địa lí, nên họ tin vào lý thuyết giáo điều của Gia-tô về sự hình thành các dân tộc, đất nước.
Sau này người Châu Âu nhận ra tính khu biệt của văn hóa vì thế vấn đề nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ĐP học và khu vực nên CT GDĐP rất phát triển. Các lý thuyết của các nghiên cứu trong khu vực đã tạo nền tảng lí luận cho việc nghiên cứu ĐP học, khu vực học. Qua đó, CTGD cũng thừa hưởng thành quả và ý thức được việc tạo dựng ND học tập liên quan đến các vấn đề về ĐP[28]. Cuốn sách “Cẩm nang quốc tế về nghiên cứu CT” đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu CT thế giới và giới thiệu CT tiêu biểu của các quốc gia.
Cuốn sách có 2 phần: phần 1 giới thiệu về nghiên cứu CT thế giới với 4 bài viết, tập trung vào các vấn đề lí luận, hướng tới CT và GD toàn cầu. Phần 2 gồm 24 bài viết về CT các quốc gia. Trong đó chương 7 viết về Hướng dẫn CT GDĐP ở Úc: hướng tới một cây CT ĐP của lĩnh vực CT. Hướng dẫn CT GDĐP ở Úc được thực hiện từ những năm 1980, Văn phòng Chính phủ đã xây dựng Viện nghiên cứu CT (Curruculum Studies Association - ACSA).
Trong chương đó, Bill Green (Charles Stuart University) đã tổng thuật các quan niệm về CT và CT ĐPở Úc.”Ông điểm qua quan điểm của Bernstein (1975), “cho rằng nguyên tắc cao nhất là cố gắng lựa chọn, TC và ĐG những gì xã hội coi như kiến thức có giá trị. Điều này là bởi những kiến thức lựa chọn, nó được dạy ra sao và ĐG như thế nào trong NT là vấn đề trọng tâm của cá nhân và xã hội”. Moore (2007) cho rằng “những gì chúng ta biết ảnh hưởng đến chúng ta tồn tại. Vấn 6 đề xung quanh CT của Úc có mục tiêu là vấn đề ND (lựa chọn dạy cái gì) và hình thức (cách TC giờ dạy, lớp học).
Quan niệm truyền thống đến đương đại của các nhà GDÚc đều thống nhất CTGD có tính chất địa phương, tính hệ thống và tính quốc gia” [30]. Tại Hàn Quốc, CT GDPT đã được điều chỉnh và được thay đổi rất nhiều lần. Tính từ thời điểm từ tháng 9/1992 CT trải qua 6 lần thay đổi và đã được ban hành. Đến tháng 12 năm 1997 CT được điều chỉnh thứ 7 và được sử dụng ổn định trong 10 năm, đến năm 2007 được tiến hành xây dựng khung CT, trải qua 2 năm xây dựng đến năm 2009, CTGD cá nhân, CT GDPT được đưa vào thử nghiệm 2009, với 4 nội dung đó là: Nội dung (1) là Định hướng cá nhân: sự cân bằng, thể chất, kĩ năng tự chủ động; Nội dung (2) là Sáng tạo cá nhân: kĩ năng cơ bản, suy nghĩ khác nhau về vấn đề, kĩ năng giải thích, kĩ năng quan sát và sáng tạo giá trị mới; Nội dung (3) là Trau dồi cá nhân: văn hóa văn học, hiểu về giá trị cuộc sống; Nội dung (4) là Cá nhân hướng tới trí tuệ nhân loại: kĩ năng cộng đồng.
Chương trình GDPT năm 2009 cho phép các trường phổ thông tổ chức CTGD, cấu trúc giờ học riêng từ 20-35%. Do đó các trường có thể kéo dài thêm CT bằng cách tăng giờ cho âm nhạc, nghệ thuật và GDthể chất hoặc tăng giờ học phụ đạo cho những HS chưa đạt chuẩn kiến thức. Các chuyên gia cũng hướng đến ND cho âm nhạc, cho nghệ thuật, dân tộc học 1 giờ/tuần. Cha mẹ HS, Phụ huynh và HS có thể chọn những môn học thiết kế, sử dụng thời gian tăng cường cho việc học hoặc tham gia các hoạt động động đồng phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân [31].
Cùng với những đổi mới các chính sách về kinh tế, chính trị của Việt Nam trong thời gian vừa quan có có chính sách liên quan đến giáo dục, cụ thể đó là sự CĐ quyết liệt của Lãnh đạo Đảng, Chính phủ trong đổi mới CT GDPT 2018, kèm theo đó là sự thay đổi của sách giáo khoa phù hợp với CT GDPT 2018. Theo chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và tại các Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng 7 đã đưa ra những quyết định liên quan đến đổi mới CTGD phổ thông phù hợp với thực tiễn và yêu cầu mới được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản toàn diện GDvà đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [2]. Nghị quyết 29, là kim chỉ nam cho mọi hành động để thúc đẩy sự thay đổi, đổi mới của CT GDPT 2018, CT GDĐP là một trong những ND quan trọng trong CT thể hiện đặc trưng trong ND và PP dạy học của mỗi một địa phương. CT GDĐP cũng phù hợp với chủ trương của Đảng, Chính phủ là “tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDđào tạo [16], để cho ĐPchủ động trong ND GD của chính ĐPđó “vừa đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù mỗi địa phương” [5], CT GDĐP cũng là cơ hội tốt để mỗi đơn vị ĐPvận dụng linh hoạt ND, PP, hình thức TC và KH dạy học cho thích ứng với điều kiện thực tiễn ĐP mình.
Theo Bùi Thanh Truyền (2015) với nghiên cứu “Đề xuất xây dựng ND CT Văn học ĐPở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học” được đề cập đến trong bài viết “CT Văn học ĐPvới định hướng dạy học phát triển năng lực ở trường phổ thông sau năm 2015” (dẫn theo [10]), với nghiên cứu này đã đề cập đến môn học được gắn với GDĐP là điều vô cùng cần thiết. Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 (2019) đã quy định nguyên lý GD là: “Hoạt động GD được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, GDNT kết hợp với GD gia đình và GD xã hội” [17]. Do vậy, trong CT GDPT 2018 do Bộ GD&ĐT ban hành đã quy định một số ND CT GDĐP ở một số môn học. Để thực hiện ND GDĐP đó, các Sở GD&ĐT phải chuẩn bị tài liệu, hướng dẫn TC dạy học, kiểm tra, ĐG, sử dụng kết quả ĐG để xếp loại HS cuối học kỳ và cuối năm học.
Nghị quyết số 88/2014/QH13 về “đổi mới CT, sách giáo khoa GDphổ thông theo CT GDPT”. Theo đó, Bộ GD&ĐT CĐ thực hiện: “giao quyền chủ 8 động cho các cơ sở và GV điều chỉnh ND, thời gian GD nên các NT có điều kiện áp dụng các hình thức TC và PP dạy học tiên tiến, trong đó việc đổi mới về CT, ND, sự thay đổi PP dạy học của GV theo hướng HS học tập tự chủ, tích cực theo các dự án, học tập trải nghiệm, nghiên cứu thiết kế ND, hoạt động dạy học, thực hiện CT thống nhất toàn quốc vừa phù hợp với đặc thù từng địa phương, từng tộc người”[23]. Nghị quyết 88 trên cũng khẳng định rằng: “CT GDPT mới phải hướng tới phát triển các năng lực chung và các năng lực đặc thù môn học liên quan đến từng lĩnh vực GD, môn học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo mà mỗi HS cần có trong cuộc sống, đồng thời tạo điều kiện phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi HS” [23]. Nhìn chung, một vài các công trình nghiên cứu được kể tên trên là những nghiên cứu được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhiều ND về QL dạy học nói chung ở những mức độ và phạm vi khác nhau, tương ứng với những khoảng thời gian nhất định.