mở đầu của một chu trình Ngân sách Nhà nước. Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh. Xét trên giác độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính nhà nước với các đơn vị thụ hưởng Ngân sách Nhà nước (Chính phủ, 2016). Hoạt động của Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là cơ cấu thu, chi của Ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào quyền phán quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước.
Do vậy mọi khoản chi từ Ngân sách Nhà nước chỉ có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi các khoản chi đó nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua (Chính phủ, 2016). Phạm vi của chi Ngân sách Nhà nước rất đa dạng, liên quan đến nhiều loại hình đơn vị thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Mức chi cho mỗi hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng và ngay giữa các cơ 12 quan trong cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng hoạt động trên địa bàn khác nhau, điều kiện về trang bị cơ sở vật chất khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động khác nhau sẽ dẫn đến các mức chi từ Ngân sách Nhà nước cho mỗi cơ quan là khác nhau (Hồ Xuân Hương, 2011). Quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của Ngân sách Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành Ngân sách Nhà nước; hạn chế tính tuỳ tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách tại các đơn vị dự toán (Hồ Xuân Hương, 2011).
Từ đó nảy sinh nguyên tắc quản lý chi thường xuyên theo dự toán như sau: Thứ 1: Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi lẽ nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có giới hạn. Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán sao cho với chi phí ít nhất nhưng phải đạt hiệu quả một cách tốt nhất (Chính phủ, 2016). Mặt khác, do đặc thù của hoạt động Ngân sách Nhà nước diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp. Nhu cầu chi từ Ngân sách Nhà nước luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn.
Nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước (Hồ Xuân Hương, 2011). Nguyên tắc này đòi hỏi bảo đảm với một chi phí thấp nhất sẽ phải thu được lợi ích lớn nhất. Trong quản lý chi thường xuyên ngân sách, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả đòi hỏi việc chi một đồng ngân sách phải tạo ra lợi ích lớn nhất có thể. Tiết kiệm không đồng nghĩa với hạn chế chi tiêu, tiết kiệm là sự chi tiêu hợp lý.
Đó là chi đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức, đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ chi thường xuyên ngân sách cấp tỉnh. Chi tiêu hợp lý sẽ tạo ra tác động lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh (Hồ Xuân Hương, 2011). Hiệu quả được xác định bằng kết quả so với chi phí đã bỏ ra. Chi tiêu hợp lý sẽ bảo đảm ngân sách được sử dụng có hiệu quả chi tiêu càng hợp lý, ngân sách được sử dụng càng hiệu quả cao.
Hiệu quả của chi tiêu ngân sách phải được xét trên nhiều mặt, hiệu quả kinh tế, xã hội, chính trị.; hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài (Hồ Xuân Hương, 2011). 13 Chi tiêu ngân sách không tiết kiệm, hiệu quả không chỉ gây lãng phí ngân sách, lãng phí nguồn lực mà còn có thể gây bất ổn cho nền kinh tế, tạo ra những hệ lụy cho nền kinh tế địa phương (Hồ Xuân Hương, 2011). Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả cũng phải được quán triệt trong các khâu của quá trình chi thường xuyên ngân sách cấp tỉnh. Để chi ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, quản lý chi ngân sách phải bảo đảm xác định được đúng đối tượng chi, thứ tự ưu tiên các khoản chi, tiêu chí, định mức, cơ cấu phân bổ ngân sách tỉnh cho chi thường xuyên hợp lý (Hồ Xuân Hương, 2011).
Thứ hai: Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước: Một trong những chức năng quan trọng của Kho bạc Nhà nước là quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước. Vì vậy, Kho bạc Nhà nước vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên. Để tăng cường vai trò của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước, hiện nay ở nước ta và đang thực hiện việc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này (Chính phủ, 2016). Để thực hiện được nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước cần phải giải quyết tốt một số vấn đề sau: i) Tất cả các khoản chi Ngân sách Nhà nước phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán.
Các khoản chi phải có trong dự toán Ngân sách Nhà nước được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền qui định và phải được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí Ngân sách Nhà nước hoặc người được uỷ quyền quyết định chi. ii) Tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án. sử dụng kinh phí Ngân sách Nhà nước (gọi chung là ĐVSD Ngân sách Nhà nước) phải mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán, hạch toán kế toán và quyết toán Ngân sách Nhà nước. iii) Bộ Tài chính, Sở tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Phòng tài chính kế hoạch quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là Cơ quan Tài chính) có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo dự toán đã được thẩm tra cho các đơn vị thụ hưởng kinh phí ngân sách; kiểm tra việc sử dụng kinh 14 phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi Ngân sách Nhà nước.
iv) Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi Ngân sách Nhà nước theo đúng qui định; tham gia với các Cơ quan Tài chính, cơ quan Quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng Ngân sách Nhà nước và xác định số thực chi Ngân sách Nhà nước. Kho bạc Nhà nước có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho các Cơ quan hưởng Ngân sách Nhà nước biết đồng gửi cho Cơ quan tài chính đồng cấp giải quyết trong các trường hợp sau: - Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt. - Chi không đúng chế độ, định mức chi tiêu tài chính nhà nước. - Không đủ các điều kiện về chi theo qui định (Đặng Hữu Nghĩa, 2014).
v) Mọi khoản chi Ngân sách Nhà nước được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên độ ngân sách, từng cấp ngân sách và Mục lục Ngân sách Nhà nước. Các khoản chi Ngân sách Nhà nước bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được qui đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan có thẩm quyền qui định. vi) Trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi Ngân sách Nhà nước, các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi. Căn cứ vào quyết định của Cơ quan Tài chính hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi giảm chi Ngân sách Nhà nước.
Nội dung nghiên cứu quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước 2. Quản lý dự toán của đơn vị sử dụng ngân sách Đầu năm cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đơn vị sử dụng ngân sách gửi dự toán chi cho Kho bạc Nhà nước (gửi bổ sung trong năm khi có thay đổi), Kho bạc có trách nhiệm quản lý dự toán, không để cơ quan hưởng Ngân sách Nhà nước chi sai nguồn dự toán, chi vượt dự toán được cấp thẩm quyền phê duyệt, thông báo phối hợp với cơ quan Tài chính đồng cấp điều chỉnh dự toán khi phát hiện sai sót trong quá trình cấp, phân bổ dự toán (Bộ Tài chính, 2019a). Khi lập dự toán chi thường xuyên phải dựa trên các căn cứ sau: 15 - Các chỉ tiêu phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng… đặc biệt là các chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí chi thường xuyên. - Các chủ trương, các hoạt động sự nghiệp, hoạt động an ninh - quốc phòng và các hoạt động khác trong từng giai đoạn nhất định.
- Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định; định mức phân bổ dự toán ngân sách do Thủ tướng chính phủ, HĐND cấp Tỉnh ban hành theo phân cấp. - Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán Ngân sách Nhà nước; thông tư hướng dẫn lập dự toán ngân sách của Bộ Tài chính và văn bản hướng dẫn của cơ quan chủ quản các cấp. - Số kiểm tra về dự toán ngân sách được cơ quan có thẩm quyền thông báo, tình hình thực hiện dự toán năm báo cáo và các năm liền kề. - Khả năng cân đối nguồn kinh phí để đáp ứng cho nhu cầu chi thường xuyên kỳ kế hoạch.
Khả năng này được dự báo trên cơ sở cơ cấu thu Ngân sách Nhà nước kỳ báo cáo và mức tăng trưởng của các nguồn thu (Bộ Tài chính, 2019a). Tổ chức thực hiện chi thường xuyên theo dự toán Nội dung chi thường xuyên bao gồm: i) Chi thanh toán cá nhân bao gồm: chi tiền lương và các khoản phụ cấp lương; các khoản đóng góp theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ); học bổng học sinh, sinh viên, tiền thưởng, phúc lợi tập thể; các khoản đóng góp, chi cho cán bộ xã thôn, bản đương chức; Chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; chi thanh toán cho cá nhân thuê ngoài; Các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định (Quốc hội, 2002).