phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động quản lý chi Ngân sách nhà nước tỉnh Bắc Ninh; Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi Ngân sách Nhà nước tỉnh Bắc Ninh; 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản lý NSNN nói chung và quản lý chi NSNN nói riêng đã và đang được rất nhiều nhà quản lý kinh tế nghiên cứu. Có một số công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến quản lý NSNN và quản lý chi NSNN ở trong nước như: - Quản lý chi NSNN qua kho bạc nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Lương Quang Tịnh, Luận văn thạc sỹ năm 2000; - Hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sỹ kinh tế của Dương Ngọc Ánh, Học viện Chính trị - Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004. - Hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, Luận văn thạc sỹ kinh tế của Dương Đức Quân, Học viện Chính trị - Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005.
- Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách địa phương góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ kinh tế của Trần Văn Lâm, Học viện Tài chính, Hà Nội, 2006. - Đổi mới quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thanh Toản, Học viện Chính trị - Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2007. Các nghiên cứu trên đã có ít nhiều đóng góp cho các nhà quản lý trong việc tăng cường quản lý chi NSNN ngân sách. Tuy nhiên, những công trình này chỉ nghiên cứu chuyên về từng mảng chuyên môn theo nội hàm của chi NSNN, mà chưa có công trình nào đề cập đến quản lý chi NSNN ở địa phương hay cụ thể hơn đề cập nghiên cứu, giải quyết vấn đề quản lý chi NSNN tại một tỉnh có nhiều đặc thù như tỉnh Bắc Ninh.
Các nghiên cứu trên cũng chưa chỉ ra được đâu là khâu yếu kém nhất trong quản lý chi NSNN ở địa phương để có cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả chi NSNN. 4 z Xuất phát từ nhận định trên đề tài: “Quản lý chi Ngân sách Nhà nước tỉnh Bắc Ninh” sẽ tiếp tục là vấn đề cấp thiết để nghiên cứu. Lý luận chung về quản lý chi ngân sách nhà nƣớc 1. Ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Qua nghiên cứu, tác giả hoàn toàn đồng ý với các khái niệm về ngân sách nhà nước mà Luật ngân sách nhà nước đã quy định.
Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước”. Đặc điểm của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Nó bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính quốc gia, cụ thể: (Nguyễn Sinh Hùng, 2005) - Quan hệ tài chính giữa nhà nước và công dân; - Quan hệ tài chính giữa nhà nước với doanh nghiệp; - Quan hệ tài chính giữa nhà nước với tổ chức xã hội; - Quan hệ tài chính giữa nhà nước với quốc tế. Ngân sách nhà nước có các đặc điểm cơ bản sau: (Nguyễn Sinh Hùng, 2005) - Hoạt động thu chi của Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định; - Hoạt động Ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của Nhà nước; 5 z - Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng; - Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác.
Nét khác biệt của Ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định; - Hoạt động thu chi của Ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Khái quát về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước cấp tỉnh Quản lý chi NSNN cấp tỉnh là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyề n sử dụng các phương pháp và công cụ chuyên ngành để tác động đến quá trình chi NSNN nhằm đảm bảo các khoản chi NSNN được thực hiện theo đúng chế độ chính sách đã được Nhà nước quy định , phục vụ tốt nhất việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Quản lý chi NSNN của cơ quan quản lý tài chính công được phân chia theo hai tuyế n : Trung ương và điạ phương.
Ở trung ương, Bô ̣ Tài chin ́ h l à đầu mối quản lý chi NSTW. Ở địa phương , Sở Tài chính là đầ u mố i quản lý chi NSĐP có phân cấ p ở mức đô ̣ nhấ t đinh ̣ cho các phòng tài chính cấ p huyê ̣n và ban tài chính xã. Tuy nhiên, do hê ̣ thố ng NSNN ở Viê ̣t Nam đươ ̣c cấ u trúc theo nguyên tắc thống nhất nên NSĐP và NSTW đề u đươ ̣c Chin ́ h phủ phê duyê ̣t (hàng năm hoặc giao ổn định 3-5 năm), đươ ̣c chi tiêu theo chế đô ̣ chung. Đặc điểm quản lý chi ngân sách nhà nước cấp tỉnh Giố ng như mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng quả n lý khác, quản lý chi NSNN cấp tỉnh cũng bao gồ m các chức năng : hoạch định kế hoạch , chính sách, mục tiêu; tổ chức thực hiê ̣n các kế hoạch, chính sách, mục tiêu đó; kiể m tra, giám sát để quá trình thực hiện đạt đươ ̣c hiê ụ quả cao nhấ t.
Song, do gắ n với tài chính công , nên quản lý chi NSNN mang mô ̣t số đă ̣c điể m riêng sau đây: (Nguyễn Thanh Toản, 2007, trang 11) Một là, quản lý chi NSNN được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trên cơ sở luật đi ̣nh. Tùy thuộc vào các chế độ chính trị khác nhau mà quản lý chi NSNN được phân quyề n khác nhau giữa các cấ p quản lý. Nế u theo chế đô ̣ liên bang thì NSTW và NSĐP tách biệt nhau do đó được chi tiêu và quản lý độc lập với nhau. Nếu theo 6 z chế đô ̣ thố ng nhấ t thì NSĐP và NSTW nằ m trong NSNN do đó đươ ̣c chi tiêu và quản lý theo chế độ chung.
Những dù theo chế đô ̣ chin ́ h tri ̣nào thì chi NSNN cũng đươ ̣c thể chế hóa bằ ng luâ ̣t pháp nhằ m đảm bảo tin ́ h khách qu an, minh ba ̣ch, chuẩ n hóa. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa quản lý chi NSNN và quản lý tài chính của các chủ thể không phải là Nhà nước. Hai là, quản lý chi NSNN vừa phục vụ mục tiêu chính trị, vừa bị chi phối bởi những nguyên tắc quản trị tài chính công. Tính chất chiń h tri ̣thể hiê ̣n ở chỗ quản lý chi NSNN hướng tới các mu ̣c tiêu chính trị như phân bổ hợp lý NSNN giữa các tầng lớp dân cư , giữa các liñ h vực và lãnh thổ khác nhau trong nền kinh tế quốc dân đã được c ấp có thẩm quyền phê chuẩ n.
Nế u quản lý chi NSNN không hiê ̣u quả thì các chin ́ h sách , các mục tiêu phân bổ ngân sách của Nhà nước sẽ sai la ̣c , làm chệch hướng tác động chính trị của nhà nước, tạo cơ hội cho các nhóm đối l ập tuyên truyền làm giảm uy tín của Nhà nước. Hơn nữa, cơ quan quản lý chi NSNN có thể sử du ̣ng các phương pháp quản lý hành chính để buô ̣c các chủ thể sử dụng NSNN phải tuân thủ. Khi cần thiết , các cơ quan hành chính còn có thể áp dụn g các chế tài pháp lý đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình sử dụng NSNN. Nguyên tắc quản trị tài chính công của quản lý chi NSNN thể hiện ở chỗ Nhà nước có thể sử du ̣ng các công cu ̣ và kỹ thuâ ̣t quản tri ̣ tài chính nói chung.
Ở đây những kỹ thuâ ̣t quản tri ̣tài chính như dự toán , đinh ̣ mức, kế toán , quyế t toán , xử lý thâm hu ̣t, thă ̣ng dư ngân sách theo thời gian… thường đươ ̣c sử du ̣ng. Ba là, quản lý chi NSNN là một hoạt động phức tạp, nhạy cảm , đố i mặt thường xuyên với xung đột lợi ích, với nguy cơ tham ô, tham nhũng. Tính chất phức ta ̣p của quản lý chi NSNN được thể hiện ở chỗ , đố i tươ ̣ng của quản lý chi NSNN rấ t đa da ̣ng , liên quan đế n nhiề u liñ h vực của đờ i số ng xã hô ̣i như đầ u tư , chuyể n giao thu nhâ ̣p , tài trợ ,…. Hơn nữa , các chủ thể nhận tiền từ NSNN đề u có đô ̣ng cơ muố n nhâ ̣n đươ ̣c nhiề u hơn , trong khi đó thu NSNN có ha ̣n nên thường xuyên tồ n ta ̣i mâu thuẫn giữa nhu cầ u đòi hỏ i chi cao với khả năng đáp ứng nguồn chi thấp.