Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế. Một số khái niệm. Các khái niệm trong nghiên cửu chủ yếu được trích dẫn từ Quy chế quản lý chất thải ban hành theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT[l 1].
Chất thải: là tất cả những vật dụng mà chủ sở hữu không còn nhu cầu sử dụng phải loại bỏ theo đúng luật định, nhất là bảo vệ môi trường, nếu có bên thứ 3 quan tâm đến giá trị của chất thải thì thuộc tính chất thải giữ nguyên cho tới khi thay đối chủ sở hữu[13]. Chất thải y tế là vật chất rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường[5, 11]. Chất thải y tế nguy hại là chất thải chứa các yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất này không được tiêu huỷ an toàn[5, 11]. Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện[5, 11].
Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế[5, 11], Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu huỷ[5, 11]. Xử lý và tiêu huỷ chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khoẻ con người và môi trường[5,l 1]. Thành phần và khối lượng chất thải y tế. Thành phần chất thải y tế.
Hoạt động y tế thải ra rất nhiều loại rác thải khác nhau nhưng sơ bộ có thể liệt kê ra các loại như sau[6, 12]: - Chất thải khoa điều trị: Bộ phận thay bông băng gồm: gạc, bông băng dính máu mủ, mủ hoại tử, tổ chức hoại tử đã cắt lọc. Bộ phận tiêm gồm kim tiêm, bơm tiêm, ống thuốc, thuốc thừa. Ngoài ra còn có các loại dịch tiết, bệnh phẩm, túi đựng. - Chất thải phòng mổ: Bông gạc nhiễm khuẩn, mủ, tổ chức hoại tử, các phần cắt bỏ của cơ thể, máu, dịch, thuốc, hoá chất, kim tiêm, bơm tiêm.
- Chất thải phòng khám: Bệnh phẩm, mủ, các tổ chức hoại tử, bông băng, gạc nhiễm khuẩn, dụng cụ, nẹp cố định, quần áo nhiễm khuẩn. - Chất thải khoa xét nghiệm huyết học: Máu, hoá chất, chai lọ, kim tiêm. - Chất thải khoa xét nghiệm vi sinh, hoá sinh: Bệnh phẩm, phân, nước giải, máu mủ, đờm, hoá chất, môi trường nuôi cấy. - Chất thải phòng thí nghiệm: Xác động vật, các bộ phận cắt bỏ của động vật, các chất thải của quá trình sản xuất vaccine.
- Chất thải sinh hoạt từ bệnh nhân, nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân: Đồ ăn, thức uống, vỏ thuốc, giấy loại, quần áo bẩn. Thành phần chất thải y tế rất đa dạng và rất khó để có thể xác định chính xác tỷ lệ thành phần của các loại rác thải như thế nào. Theo các khảo sát tại một số bệnh viện thì thành phần chất thải có thể xác định như sau: 6 BẢNG 1.1: Thành phần chất thải bệnh viện. Thành phần chất thải bệnh viện Tỷ lệ% Giấy các loại 3 Kim loại, vỏ hộp 0,7 Thuỷ tinh, ống tiêm, chai thuốc 3,2 Bông băng, bột bó gãy tay 8,8 Chai, túi nhựa các loại 10,1 Bệnh phẩm 0,6 Rác hữu cơ 52,57 Đất, đá và các vật rắn 21,03 Nguôn:Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chât thải 2004 [8] 1.
Khối lượng chất thải rắn phát sinh. Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tuỳ thuộc vào từng khu vực địa lý, theo mùa, theo sự thay đổi cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện, lượng bệnh nhân đến khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân nội ngoại trú, phương pháp thói quen của nhân viên trong khám, điều trị, chăm sóc, số lượng người nhà bệnh nhân đến chăm sóc.[21, 27] Báo cáo năm 2009 của Cục Y tế dự phòng và môi trường về thực trạng quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế trên cả nước cho biết: Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế vào khoảng 350 tấn/ngày, trong đó có 40,5 tan là chất thải rắn y tế nguy hại. Ước tính năm 2010, số lượng chất thải y tế tại tất cả các cơ sở y tể trên cả nước là hơn 380 tấn/ngày (trong đó có khoảng 45 tấn/ ngày là chất thải rắn y tế nguy hại), đến năm 2015 là 600 tấn/ngày và đến năm 2020 là khoảng trên 800 tấn/ ngày [28] Theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2012 lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế khoảng 450 tấn/ngày. Trong đó, 47 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại.
Tuy tổng thải chung chất thải y tế ít tăng hoặc chỉ tăng nhẹ, nhưng lượng chất thải y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt lại tăng lên theo thời gian do 2 xu thế sau: 7 - Tăng tỷ lệ sử dụng các dụng cụ dùng 1 lần như bơm kim tiêm, đè lưỡi, găng tay phẫu thuật, ống thông, túi thu dịch dẫn lưu, bông băng, vải trải phẫu thuật. - Tăng số lượng các giường bệnh ở các cơ sở điều trị từ tuyến huyện và tương đương trở lên.Ngày càng tăng ứng dụng nhiều hơn kỹ thuật cao trong tất cả các khâu từ khám bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị[8]. Lượng chất thải rắn y tế phát sinh theo loại bệnh viện. Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT (kg/giường bệnh/ngày) Bệnh viện thuộc đại học y dược 4,1-8,7 Bệnh viện đa khoa 2,1 -4,2 Bệnh viện tuyến Huyện 0,5 - 1,8 Trung tâm y tế 0,05 - 0,2 Nguôn: Economopolos(1993)[39] Khối lượng chất thải y tế phát sinh cũng có sự khác nhau giữa các nước có mức thu nhập khác nhau trên thế giới.
Lượng CT phát sinh khác nhau giữa các nước có mức thu nhập khác nhau. Mức thu nhập Tổng lượng CTYT CTYT nguy hại (kg/đầu người) (kg/đầu người) Nước có mức thu nhập cao 1,1 - 12,0 0,4-5,5 Nước có mức thu nhập TB 0,8-6,0 0,3 - 0,4 Nước có mức thu nhập thấp 0,3 - 0,5 Nguồn: ủy ban liên minh châu âu(1995)[39] Ở Việt Nam Bộ Y Te đã phối hợp với tổ chức Y tế thế giới đã tiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng quản lý chất thải tại 80 bệnh viện trên cả nước kết quả cho thấy: Bệnh viện tuyến trung ương khối lượng CTYT phát sinh trong 1 ngày khoảng 0,97kg trên giường bệnh và lượng CTYT nguy hại chiếm 0,16kg trên giường bệnh. 8 Bệnh viện tuyến tỉnh là 0,88 và 0,14. Bệnh viện tuyến huyện là 0,73 và 0,11.
Tính chung cho cả 3 tuyến là 0,86 và 0,14. Lượng chất thải y te phát sinh ở các bệnh viện ở Việt Nam Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT CTYT nguy hại (Kg/giường bệnh/ngày) (Kg/giườngbệnh/ ngày) Bệnh viện trung ương 0,97 0,16 Bệnh viện tuyến tỉnh 0,88 0,14 Bệnh viện tuyến huyện 0,73 0,11 Chung 0,86 0,14 —--------V------ '7-----------7-------7~7 7------------77X Nguôn: Bảo vệ môi trường các cơ sở y tê[21 ] Kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện khu vực phía Bắc (2010) cho thấy, lượng chất thải rắn y tế lây nhiễm phát sinh hàng ngày trung bình cho cả 3 tuyến bệnh viện là khoảng 0,28 kg/giường bệnh/ngày [1] 1. Tác động của chất thải y tế đối vó’i sức khoẻ. Ô nhiễm chất thải rắn sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất.
Khi môi trường bị ô nhiễm sẽ tác động xấu đến sức khoẻ của người dân thông qua đường hô hấp, sinh hoạt. Người dân có thể bị các chứng bệnh sau như: bệnh dị ứng tai mũi họng, các loại bệnh ngoài da, các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, tiêu chảy, dịch tả, thương hàn. Do nền khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao làm bay hơi nhiều chất độc hại từ chất thải rắn sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ người dân, đặc biệt là những người lao động thường xuyên tiếp xúc với các nguồn chất thải, gây các bệnh về đường hô hap như viêm phế quản, viêm đường hô hấp trên. Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn và các vật sắc nhọn.
Các tác nhân gây ô nhiễm trong chất thải rắn đặc biệt là chất thải rắn nguy hại như các chất độc hại, các mầm bệnh. Các tác nhân gây bệnh có the xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau: Qua da, niêm mạc, đường hô hấp, đường tiêu hoá. Đây được coi là nguy cơ lớn nhất đối với sức khoẻ người dân. 9 Theo WHO thống kê năm 2000 có 21 triệu ca nhiễm virus HBV chiếm 32% tất cả những ca nhiễm mới, 2 triệu ca nhiễm HCV chiếm 40% tất cả những ca mắc mới và 260.000 ca nhiễm HIV chiếm 5% trong tất cả những ca mắc mới[43].
Ở các nước đang phát triển nguy cơ nhiễm khuẩn rất lớn từ các địa điểm xử lý chất thải.Trong tháng 6 năm 2000 sáu trẻ em được chẩn đoán bị một dạng nhẹ của bệnh đậu mùa sau khi đã chơi với các ổng thuỷ tinh có chứa chủng đậu mùa đã hết hạn tại bãi rác ở Vladivostok [42] Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ the thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niệm mạc; qua đường hô hấp; qua đường tiêu hóa. Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và kháng hóa chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn.Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẫn. Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế. Một khảo sát của Viện Y học lao động và môi trường năm 2006 cho thấy 35% số nhân viên y tế bị thương tích do vật sắc nhọn trong vòng 6 tháng qua, và 70% trong số họ bị thương tích do vật sắc nhọn trong sự nghiệp.
Tổn thương do vật sắc nhọn có khả năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như HIV, HBV, và HCV. Khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV nghề nghiệp là do thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm. Việc tái chế hoặc xử lý không an toàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả nhựa và vật sắc nhọn có thể có tác động lâu dài tới sức khỏe cộng đồng[6].