Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý chất thải rắn thông thường. Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý chất thải rắn thông thường. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường. 4 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƢỜNG 1.
Các khái niệm: Chất thải, chất thải rắn thông thƣờng, quản lý chất thải rắn thông thƣờng 1. Khái niệm chất thải Theo cách hiểu thông thường, chất thải là những chất mà con người bỏ đi, không tiếp tục sử dụng nữa. Khi bị thải bỏ, những chất này tồn tại trong môi trường dưới những trạng thái nhất định và có thể gây ra rất nhiều tác động bất lợi cho môi trường cũng như sức khoẻ con người. Chất thải, CTRTT là vấn đề quan trọng trong cuộc sống ngày nay vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu và tìm hiểu để từ đó biết cách để quản lý, phân loại, và tận dụng, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể khi không tuân thủ quy trình xả, thải theo quy định của pháp luật.
Dưới giác độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những “chất” không còn sử dụng được nữa bị con người “thải” ra trong các hoạt động khác nhau. Chất thải được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì được gọi với những thuật ngữ khác nhau như: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thì gọi là rác thải; Chất thải phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu trong quá trình sản xuất thì gọi là phế liệu; Chất thải phát sinh sau quá trình sử dụng nước thì gọi là nước thải… [14, tr. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “Chất thải là rác thải và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Theo cách hiểu của khái niệm này, chất thải bao gồm rác là những thứ vụn vặt bị vất bỏ vương vãi, làm bẩn và đồ vật không có giá trị, không có tác dụng nên không giữ lại [14, tr.
5 z Từ điển môi trường Anh - Việt và Việt – Anh định nghĩa “Chất thải (waste) là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ” [15]. Khái niệm chất thải cũng được sử dụng trong pháp luật quốc tế về môi trường, được đề cập tại Công ước Basel. Điều 2 khoản 1 Công ước Basel định nghĩa: “Chất thải là chất hoặc các đồ vật mà người ta tiêu huỷ, có ý định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ theo qui định của pháp luật quốc gia”. Theo đó, yếu tố quyết định để xác định một vật chất hoặc một đồ vật đó có bị chủ sở hữu “tiêu huỷ, có ý định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ” hay không [14, tr.
Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của khối liên kết chính trị - kinh tế. Liên minh Châu Âu (EU). Điều 1 Nghị định 259/93 của EU về vận chuyển chất thải ngày 1/2/1993 có hiệu lực từ ngày 6/5/1994 định nghĩa: “Chất thải có nghĩa là bất kỳ chất hoặc vật nào nằm trong danh mục phân loại tại Phụ lục I mà người giữ chúng thải bỏ hoặc có ý định thải bỏ”. Theo định nghĩa này, một vật chất sẽ là chất thải khi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp vật chất đó không có ý định sử dụng hoặc không được tiếp tục sử dụng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [14, tr.
Theo Điều 3 khoản 1 Luật khuyến khích kinh tế tuần hoàn và đảm bảo xử lý các chất thải phù hợp với môi trường ngày 27/9/1994 được sửa đổi bổ sung ngày 25/8/1998 của CHLB Đức: “Chất thải là tất cả các động sản thuộc Phụ lục I của luật này mà chủ sở hữu từ bỏ, có ý muốn từ bỏ hoặc bắt buộc phải từ bỏ. Những chất thải có khả năng tái chế được thì chủ sở hữu có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp tái chế. Trong trường hợp không tái chế được thì chủ sở hữu có nghĩa vụ xử lý”. Theo định nghĩa này, chỉ có động sản mới có 6 z thể trở thành chất thải, bất động sản không thể trở thành chất thải.
Một động sản có thể trở thành chất thải hay không phụ thuộc vào việc đánh giá động sản đó có bị “từ bỏ” hoặc phải “từ bỏ” hay không [14, tr. Cả hai định nghĩa trên đều có một điểm chung là “vật chất được xác định là chất thải khi nó nằm trong Phụ lục I của Luật”. Như vậy, cả hai luật này đều quan tâm đến việc đưa vật chất nào và không đưa vật chất nào vào trong Phụ lục của mình. Giả sử có những vật chất chưa được đưa vào Phụ lục nhưng nó lại có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường khi chủ sở hữu thải bỏ thì sẽ được xác định như thế nào, đây là hạn chế mà các nhà làm luật cần phải bổ sung.
Hơn nữa, điều này sẽ khó khi áp dụng vào Việt Nam bởi chung ta chưa đảm bảo được yếu tố về mặt kỹ thuật, công nghệ khi xác định các dạng vật chất nằm trong danh mục chất thải thuộc sở hữu của các chủ thể khác nhau. Pháp luật Việt Nam có quy định khác so với hai văn bản pháp luật trên, pháp luật Việt Nam đã liệt kê cụ thể các dạng vật chất phát sinh trong các hoạt động của con người và tồn tại dưới các dang khác nhau: Khí, lỏng, rắn… Quan niệm về chất thải còn được xem xét trên khía cạnh kinh tế. Theo quan điểm chung thì chất thải có thể hiểu là chất có thể gây ô nhiễm môi trường; làm cho môi trường suy thoái, hoặc gây ra sự cố môi trường. Nguồn gốc phát sinh ra chất thải là những gì mà chủ sở hữu chúng hiện tại không sử dụng và thải bỏ.
Tuy nhiên, việc chủ sở hữu hiện tại không muốn sử dụng và thải bỏ có thể vì nhiều lý do khác nhau như công nghệ, sở thích, nhu cầu. Việc thải bỏ bao gồm từ thu gom, xử lý cho đến chôn lấp an toàn chất thải đều có ý nghĩa là cá nhân hay xã hội phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định. Việc ít thải bỏ chất thải cũng có nghĩa là nguyên vật liệu, năng lượng … được sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong điều kiện ngày càng 7 z khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, giá cả nguyên nhiên vật liệu ngày càng cao thì lợi ích kinh tế của việc phòng ngừa, giảm thiểu chất thải lại càng quan trọng.
Điều đó cũng có nghĩa đối với chất thải, để quản lý tốt không chỉ là thu gom, xử lý và chôn lấp an toàn mà cần xem xét cả đến lợi ích của nó, và tuỳ từng loại chất thải có thể tái sử dụng, tái chế hoặc thu hồi cho mục đích khác mà không phải tốn kinh phí cho việc thải bỏ [23] Điều 2 khoản 2 Luật bảo vệ môi trường (BVMT) 1993 định nghĩa: “Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc các hoạt động khác - chất thải có thể ở dạng khí, lỏng, rắn hoặc các dạng khác”. Điều 3 khoản 10 Luật BVMT 2005 định nghĩa: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác” Từ các định nghĩa và dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân loại chất thải thành các nhóm loại khác nhau: + Dựa vào dạng tồn tại của chất thải, chất thải tồn tại dưới dạng rắn (chất thải rắn), lỏng (chất thải lỏng), khí (khí thải), nhiệt lượng, tiếng ồn… + Phụ thuộc vào sự độc hại của chất thải, chất thải bao gồm chất thải độc hại nguy hiểm và chất thải thông thường. + Phụ thuộc vào nguồn sản sinh chất thải, chất thải được chia thành chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế… + Phụ thuộc vào chu trình sản sinh ra chất thải, chất thải bao gồm nguyên liệu thứ phẩm, phế liệu, vật liệu thứ phẩm, sản phẩm, đồ vật hư hỏng hoặc quá hạn sử dụng [14, tr 15]. 8 z Thông qua các phân tích trên chúng ta thấy, vật chất là chất thải hay không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu của vật chất đó, trừ trường hợp chất thải được sản sinh do đặc thù của chu trình hoạt động, được thải ra một cách bị động không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu cũng như các đối tượng khác.
Khái niệm chất thải rắn thông thƣờng Thuật ngữ chất thải rắn thông thường được sử dụng nhiều trên thực tế và tại một số văn bản quy phạm pháp luật. Chương VIII, mục 3 Luật BVMT 2005 và Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn có nhiều điều, khoản đề cập đến đến thuật ngữ CTRTT, nhưng chưa có văn bản nào trực tiếp định nghĩa CTRTT. Vậy CTRTT là gì? Theo tôi, để nhận biết CTRTT cần dựa vào những dấu hiệu đặc trưng sau: Trước hết CTRTT phải là chất thải rắn (không phải là ở thể lỏng, thể khí). Điều 3 khoản 2 Nghị định 59/NĐ–CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ Về quản lý chất thải rắn định nghĩa: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Để xác định một chất là chất thải hay không, cần dựa vào ba tiêu chí sau: + Chất thải tồn tại dưới dạng vật chất ở dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí hoặc các dạng khác. Những yếu tố phi vật chất không thể được coi là chất thải. + Vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ hoặc bị buộc phải thải bỏ. Nói cách khác, các dạng vật chất được coi là chất thải khi người chủ sở hữu hay 9 z sử dụng chúng thải bỏ một cách chủ động theo ý chí của họ, hoặc phải thải bỏ một cách bị động theo ý chí của Nhà nước, không sử dụng nó vào bất kỳ mục đích nào khác.
+ Nguồn gốc phát sinh ra chất thải là từ các hoạt động của con người. Đó là các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt động khác [24, tr. 14] Như vậy, vì CTRTT là một loại chất thải rắn vì vậy muốn xác định một dạng vật chất có phải là CTRTT hay không cần dựa vào ba tiêu chí đã được nêu. Thứ hai, CTRTT không phải là chất nguy thải nguy hại.