Tổng quan nghiên cứu

Áp lực từ sự gia tăng chất thải rắn đang là một trong những thách thức môi trường nghiêm trọng nhất tại các đô thị đang phát triển. Theo các báo cáo môi trường quy mô quốc gia, lượng chất thải rắn phát sinh mỗi năm lên tới hàng chục triệu tấn, trong đó chất thải rắn đô thị chiếm tỷ trọng khoảng 45% và chất thải công nghiệp chiếm khoảng 17%. Thành phố Hưng Yên là trung tâm hành chính, kinh tế và văn hóa của tỉnh Hưng Yên, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 73,42 km2 với 17 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 7 phường và 10 xã. Dân số đô thị đạt trên 147.000 người, trong đó dân cư tập trung tại khu vực nội thị chiếm 76,22% với mật độ lên tới 10.110 người/km2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì trên 12,5% mỗi năm kéo theo mức tiêu dùng tài nguyên và khối lượng phát thải tăng vọt, tạo gánh nặng lớn lên công tác thu gom và hạ tầng bãi chôn lấp tập trung có diện tích 12,55 ha.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh và thực trạng quản lý các dòng chất thải rắn bao gồm chất thải sinh hoạt, nông nghiệp, làng nghề, công nghiệp, xây dựng và y tế trên địa bàn thành phố Hưng Yên. Nghiên cứu xác định các nút thắt về hạ tầng kỹ thuật, tổ chức bộ máy và cơ chế tài chính trong giai đoạn từ năm 2010 đến nửa đầu năm 2014, có sự kế thừa dữ liệu giai đoạn 2005 - 2013. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc xây dựng cơ sở khoa học vững chắc nhằm nâng tỷ lệ thu gom rác sinh hoạt từ mức 85% lên 100%, kiểm soát an toàn 100% lượng rác thải y tế nguy hại và giải quyết tình trạng quá tải tại các điểm tập kết rác ngoại thành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết Quản lý tổng hợp chất thải rắn và nguyên tắc 3R gồm Giảm thiểu, Tái sử dụng và Tái chế. Mô hình này nhấn mạnh dòng luân chuyển khép kín của vật chất từ nguồn phát sinh, thu gom, vận chuyển đến khâu tái chế và xử lý cuối cùng. Nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền cũng được tích hợp theo định hướng của Nghị định 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn nhằm đánh giá mức độ công bằng và khả thi của hệ thống phí vệ sinh môi trường.

Các khái niệm chuyên ngành chủ đạo được sử dụng xuyên suốt bao gồm: chất thải rắn sinh hoạt, phân loại rác tại nguồn, công nghệ chế phẩm sinh học vi sinh hữu hiệu và bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Dữ liệu chuẩn hóa cho thấy mức phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân đô thị tại Việt Nam đạt khoảng 0,75 kg/người/ngày, riêng khu vực Đồng bằng sông Hồng đạt mức 0,83 kg/người/ngày. Đây là thước đo lý thuyết quan trọng để đối sánh với cường độ phát thải thực tế tại thành phố Hưng Yên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hệ phương pháp đa dạng kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra thực địa sơ cấp. Cỡ mẫu điều tra xã hội học bao gồm 300 hộ gia đình và cá nhân sinh sống trên địa bàn 17 xã, phường của thành phố. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên mật độ dân cư và đặc điểm địa bàn (nội thành và ngoại thành), giúp phản ánh trung thực thói quen xả thải, tỷ lệ nộp phí vệ sinh từ 2.000 đến 3.000 đồng/người/tháng và nhận thức bảo vệ môi trường của người dân.

Bên cạnh khảo sát hộ gia đình, phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện trực tiếp với các chuyên gia và nhà quản lý thuộc Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Hưng Yên, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố, đại diện Công ty Môi trường đô thị và công nhân thu gom trực tiếp trên các tuyến phố. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê mô tả được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác khối lượng rác, cơ cấu thành phần lý hóa và dự báo xu hướng phát thải. Quá trình thu thập và xử lý thông tin được triển khai tập trung trong giai đoạn 2013 đến tháng 6 năm 2014, bảo đảm tính cập nhật và độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thành phố được thu gom dao động từ 70 đến 75 tấn/ngày, riêng năm 2013 đạt khối lượng 23.949,2 tấn/năm. Cơ cấu thành phần rác thải sinh hoạt thể hiện đặc trưng rõ rệt của đô thị đang phát triển với tỷ lệ rác hữu cơ chiếm tới 80,93% tổng khối lượng (trong đó rác thực phẩm chiếm 59,28%, giấy bìa 2,29%, vải sợi 3,29%), rác nhựa chiếm 10,75% và rác vô cơ chỉ chiếm 8,32% gồm gạch vỡ, thủy tinh và kim loại.

Thứ hai, có sự phân hóa mạnh mẽ về hiệu quả thu gom giữa hai khu vực. Tại khu vực nội thị, tỷ lệ thu gom đạt 100% với tần suất 2 lần/ngày, phục vụ 10.736 hộ dân và thu gom 45,7 tấn/ngày trên 133 tuyến đường phố có tổng chiều dài 24,225 km. Ngược lại, tính chung toàn thành phố, tỷ lệ thu gom chỉ đạt 85 - 86% do 4 trong số 5 xã mới sáp nhập chưa có hệ thống thu gom định kỳ, dẫn đến lượng rác tồn đọng cục bộ tại các ngõ xóm.

Thứ ba, khối lượng chất thải nông nghiệp phát sinh rất lớn với khoảng 150 tấn/ngày từ trồng trọt và 100 tấn/ngày từ chăn nuôi. Đáng lo ngại là 90% người dân được hỏi cho biết bao bì thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học (khoảng 0,1 tấn/ngày) chưa được thu gom riêng biệt mà bị đốt cùng rơm rạ hoặc thải bừa bãi. Ngoài ra, 5 làng nghề trên địa bàn phát sinh 14 - 16 tấn chất thải/ngày với 60% bị xả chung vào dòng rác sinh hoạt.

Thứ tư, chất thải rắn công nghiệp phát sinh khoảng 56 tấn/ngày từ các doanh nghiệp may mặc, nhựa và bao bì. Chất thải xây dựng phát sinh khoảng 22 tấn/ngày với 70% bị đổ thải tùy tiện tại các vùng đất trũng và rìa đường giao thông, trong khi bùn thải đô thị phát sinh 23 tấn/ngày được nạo vét định kỳ 1 lần/tháng. Riêng chất thải y tế phát sinh khoảng 1,19 tấn/ngày, trong đó có 0,18 tấn/ngày là chất thải y tế nguy hại (chiếm 15%) nhưng đã được ký hợp đồng thu gom và xử lý đạt tỷ lệ xấp xỉ 100%.

Thảo luận kết quả

Thành phần chất thải rắn sinh hoạt với hơn 80% là chất hữu cơ dễ phân hủy là nguồn nguyên liệu vô cùng lý tưởng cho quá trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh compost, phục vụ vùng sản xuất nông nghiệp ven đô. Tuy nhiên, toàn bộ lượng rác này hiện vẫn được vận chuyển về bãi rác trung tâm để chôn lấp hợp vệ sinh bằng chế phẩm vi sinh hữu hiệu EM với chi phí xử lý khoảng 76.000 đồng/tấn, gây lãng phí tài nguyên và nhanh chóng làm đầy ô chôn lấp 1,7 ha hiện hữu.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ tròn biểu diễn tỷ lệ 80,93% rác hữu cơ, 10,75% nhựa và 8,32% vô cơ, giúp người quản lý dễ dàng nhận diện tiềm năng kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, bảng phân tích điểm mạnh - điểm yếu SWOT làm nổi bật sự đối lập giữa hệ thống thu gom nội thị hoàn chỉnh và sự thiếu hụt phương tiện tại ngoại thành, nơi chỉ có 8 thùng container 10 m3 đặt tại 3 xã. Phương tiện vận chuyển toàn thành phố mới có 91 xe đẩy tay 400 lít, 3 xe ô tô ép rác và 1 xe chuyên dụng hooklift, hầu hết đã cũ và thường xuyên hư hỏng. Cự ly vận chuyển kéo dài từ 18 đến 23 km từ các điểm tập kết về khu xử lý làm tăng chi phí nhiên liệu. Hệ thống xử lý nước rỉ rác tại bãi chôn lấp còn bộc lộ khiếm khuyết khi lớp chống thấm có dấu hiệu hư hỏng và chưa có hệ thống thu gom khí bãi rác.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chính sách quản lý: Ban hành quy định bắt buộc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn thành 3 nhóm gồm rác hữu cơ, rác tái chế và rác vô cơ còn lại. Ủy ban nhân dân thành phố Hưng Yên cần chủ trì xây dựng chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xả rác bừa bãi, đồng thời điều chỉnh mức thu phí vệ sinh môi trường theo khối lượng xả thải nhằm bù đắp chi phí vận hành, hướng tới mục tiêu đạt tỷ lệ 50% hộ gia đình phân loại rác đúng quy chuẩn vào năm 2017.

Thứ hai, hiện đại hóa hạ tầng và mạng lưới thu gom: Công ty Môi trường đô thị phối hợp với Phòng Quản lý đô thị đầu tư bổ sung 15 - 20 xe cuốn ép chở rác chuyên dụng từ 5 đến 7 tấn, thay thế các xe gom đẩy tay xuống cấp và lắp đặt 30 thùng container kín 10 m3 tại các điểm tập kết ở 5 xã mới sáp nhập. Giải pháp này nhằm nâng tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt toàn thành phố đạt 95% vào năm 2018 và đạt 100% vào năm 2020.

Thứ ba, đổi mới công nghệ xử lý chất thải: Chuyển dịch từ phương pháp chôn lấp đơn thuần sang xây dựng nhà máy chế biến phân vi sinh compost công suất 50 - 60 tấn/ngày để tận dụng 80,93% nguồn rác hữu cơ. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên chỉ đạo cải tạo triệt để hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác và lắp đặt màng chống thấm đạt chuẩn tại bãi chôn lấp diện tích 12,55 ha, phấn đấu giảm tỷ lệ rác chôn lấp trực tiếp xuống dưới 30% giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ tư, kiểm soát chất thải nông nghiệp, làng nghề và nguy hại: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng chính quyền các xã xây dựng hệ sinh thái bể chứa bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại các cánh đồng mẫu lớn, chuyển giao mô hình hầm biogas cho 100% hộ chăn nuôi quy mô trên 20 con gia súc để xử lý 100 tấn chất thải chăn nuôi mỗi ngày. Đồng thời, Sở Y tế duy trì giám sát quy trình thu gom, thiêu đốt đạt chuẩn đối với 0,18 tấn/ngày chất thải y tế nguy hại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và đô thị gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Quản lý đô thị và Ủy ban nhân dân thành phố Hưng Yên. Dữ liệu lượng phát thải 70 - 75 tấn/ngày và cơ cấu thành phần rác thải là căn cứ thực tiễn để phê duyệt quy hoạch mở rộng bãi chôn lấp thêm 11,397 ha và ban hành khung giá dịch vụ vệ sinh môi trường.

Nhóm thứ hai là doanh nghiệp dịch vụ môi trường đô thị. Đơn vị vận hành có thể tham khảo trực tiếp sơ đồ tối ưu hóa tuyến thu gom trên 133 tuyến phố, định mức vận hành phương tiện vận chuyển trên cự ly 18 - 23 km và quy trình kiểm soát nước rỉ rác bằng chế phẩm vi sinh hữu hiệu.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý môi trường và Đô thị học. Luận văn cung cấp case study hoàn chỉnh về quản lý chất thải rắn tại đô thị loại III với bộ công cụ khảo sát xã hội học 300 mẫu và phương pháp tính toán định lượng chuyên sâu.

Nhóm thứ tư là các hợp tác xã nông nghiệp, ban quản lý làng nghề và cộng đồng dân cư. Tài liệu cung cấp các hướng dẫn kỹ thuật thực tế về mô hình ủ phân hữu cơ hộ gia đình, quy chuẩn nắp hố rác di động và giải pháp thu hồi năng lượng sinh học từ 250 tấn phế phẩm nông nghiệp mỗi ngày.

Câu hỏi thường gặp

Chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hưng Yên có đặc tính thành phần nào nổi bật nhất? Thành phần rác sinh hoạt có tỷ lệ chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm ưu thế tuyệt đối với 80,93% tổng khối lượng, trong đó rác thực phẩm chiếm 59,28%, rác nhựa chiếm 10,75% và rác vô cơ chiếm 8,32%. Tỷ lệ hữu cơ vượt trội này là điều kiện lý tưởng để triển khai sản xuất phân bón vi sinh thay vì chôn lấp.

Vì sao tỷ lệ thu gom rác thải giữa nội thành và ngoại thành lại có sự chênh lệch lớn? Khu vực nội thành đạt tỷ lệ thu gom 100% nhờ công nhân thu gom 2 ca/ngày trên 133 tuyến đường. Trong khi đó, khu vực ngoại thành mới đạt khoảng 85% do 4 trong 5 xã mới sáp nhập chưa được trang bị thùng container 10 m3 và đường làng ngõ xóm chật hẹp khiến xe cơ giới khó tiếp cận.

Bãi chôn lấp chất thải rắn thành phố Hưng Yên đang áp dụng công nghệ xử lý nào? Khu xử lý rác thải rộng 12,55 ha đang vận hành ô chôn lấp 1,7 ha với công suất thiết kế 200 tấn/ngày, hiện tiếp nhận 70 - 75 tấn/ngày. Công nghệ chủ đạo là chôn lấp hợp vệ sinh kết hợp phun chế phẩm vi sinh hữu hiệu EM để khử mùi và thúc đẩy phân hủy với chi phí xử lý 76.000 đồng/tấn.

Chất thải phát sinh từ hoạt động nông nghiệp trên địa bàn thành phố được xử lý như thế nào? Thành phố phát sinh khoảng 250 tấn chất thải nông nghiệp mỗi ngày, trong đó 65% sinh khối trồng trọt bị đốt ngoài đồng ruộng, 60% chất thải chăn nuôi được ủ phân và 30% làm khí sinh học biogas. Tuy nhiên, 90% người dân cho biết bao bì thuốc bảo vệ thực vật vẫn chưa được thu gom đạt chuẩn.

Chất thải rắn y tế nguy hại được kiểm soát và xử lý bằng phương thức nào? Toàn thành phố phát sinh khoảng 1,19 tấn chất thải y tế/ngày, trong đó có 0,18 tấn rác nguy hại (chiếm 15%). Lượng chất thải nguy hại này được thu gom đạt tỷ lệ 100% thông qua hợp đồng xử lý tập trung với các đơn vị chuyên trách hoặc thiêu đốt tại các lò đốt đạt chuẩn của bệnh viện tuyến tỉnh.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng chi tiết hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại thành phố Hưng Yên với khối lượng rác sinh hoạt đạt 70 - 75 tấn/ngày, nông nghiệp 250 tấn/ngày, công nghiệp 56 tấn/ngày, xây dựng 22 tấn/ngày và y tế 1,19 tấn/ngày.
  • Nghiên cứu chỉ rõ nghịch lý khi rác hữu cơ chiếm tới 80,93% nhưng toàn bộ vẫn xử lý bằng phương pháp chôn lấp cơ học phun vi sinh EM, chưa khai thác được giá trị tái chế phân bón compost.
  • Đánh giá sâu sắc khoảng cách hạ tầng khi tỷ lệ thu gom nội đô đạt tuyệt đối 100% nhưng ngoại thành chỉ đạt 85 - 86%, đồng thời nhận diện nguy cơ ô nhiễm từ 90% bao bì thuốc bảo vệ thực vật chưa được quản lý riêng.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện thể chế phân loại tại nguồn, bổ sung phương tiện cơ giới thu gom, xây dựng nhà máy compost và kiểm soát chất thải nguy hại theo lộ trình 2015 - 2020.
  • Các nhà quản lý, doanh nghiệp môi trường và cộng đồng dân cư cần nhanh chóng áp dụng mô hình phân loại rác tại nguồn và công nghệ xử lý tuần hoàn để bảo vệ môi trường, hướng tới xây dựng thành phố Hưng Yên phát triển bền vững và văn minh.