MỞ ĐẦU Hiện nay, cùng với quá trình đẩy mạnh đô thị hóa, công nghiệp hóa, khối lƣợng chất thải rắn (CTR) phát sinh ở các tỉnh, thành phố (TP) nƣớc ta ngày càng tăng. Theo Báo cáo môi trƣờng quốc gia năm 2011 do Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (TN-MT) công bố tháng 8 năm 2012 [3], ƣớc tính mỗi năm cả nƣớc có hàng triệu tấn CTR phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó khoảng 45% tổng khối lƣợng là CTR đô thị, 17% tổng khối lƣợng là CTR công nghiệp. Đến năm 2015, tỷ trọng CTR đô thị có thể lên đến 51%, CTR công nghiệp sẽ lên đến 22%, phần còn lại là các loại CTR nông nghiệp – nông thôn, CTR y tế và các loại khác. Quản lý lƣợng chất thải này là một thách thức to lớn và là một trong những dịch vụ môi trƣờng đặc biệt quan trọng không chỉ vì chi phí cho hoạt động này rất lớn mà còn vì những lợi ích to lớn và tiềm tàng đối với sức khoẻ cộng đồng và đời sống của ngƣời dân.
Công tác quản lý, thu gom, phân loại và tái sử dụng chất thải rắn, nếu đƣợc thực hiện từ hộ gia đình, có hệ thống quản lý và công nghệ phù hợp sẽ rất có ý nghĩa trong việc mang lại lợi ích kinh tế, bảo vệ môi trƣờng và tiết kiệm tài nguyên cho đất nƣớc. Thành phố Hƣng Yên là trung tâm chính trị, kinh tế của tỉnh Hƣng Yên, nằm ở trung tâm của vùng đồng bằng sông Hồng, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Hƣng Yên là thành phố đô thị loại III với tổng số 17 xã, phƣờng trực thuộc (07 phƣờng và 10 xã). Thành phố có tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, cuộc sống của ngƣời dân ngày càng đƣợc cải thiện, nhu cầu cuộc sống vật chất và sử dụng tài nguyên ngày càng lớn kéo theo sự gia tăng lƣợng chất thải rắn nói chung và lƣợng rác thải sinh hoạt nói riêng ngày càng nhiều.
Công tác quản lý chất thải rắn đang trở thành vấn đề môi trƣờng cấp bách của thành phố Hƣng Yên. Vì vậy, nghiên cứu việc quản lý chất thải rắn tại thành phố Hƣng Yên là việc làm rất cần thiết. Trên cơ sở phân tích hiện trạng phát thải và quản lý chất thải rắn tại thành phố Hƣng Yên sẽ đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn 1 z tại thành phố Hƣng Yên. Đề tài nghiên cứu “Quản lý chất thải rắn tại thành phố Hưng Yên” nhằm góp phần giải quyết các vấn đề nói trên.
Đề tài mang tính thực tiễn cao, kết quả của đề tài sẽ giúp cho những nhà quản lý tham khảo để đƣa ra các quyết định phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn tại thành phố Hƣng Yên nhằm giảm thiểu các tác động tới môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng. Mục tiêu nghiên cứu: - Tìm hiểu thực trạng phát sinh CTR tại thành phố Hƣng Yên. - Tìm hiểu hiện trạng quản lý CTR tại thành phố Hƣng Yên. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR tại thành phố Hƣng Yên.
Sơ lƣợc về chất thải rắn 1. Các khái niệm cơ bản Theo Điều 3 – Nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 9/4/2007 về quản lý CTR [5] đƣa ra các định nghĩa sau: - Chất thải là sản phẩm đƣợc sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con ngƣời, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thƣơng mại, sinh hoạt gia đình, trƣờng học, các khu dân cƣ, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra, còn phát sinh trong giao thông vận tải nhƣ khí thải của các phƣơng tiện giao thông, chất thải là kim loại hoá chất và từ các vật liệu khác. - Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, đƣợc thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
- Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng. - Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lƣu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khoẻ con ngƣời: + Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lƣu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền chấp nhận. + Lƣu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trƣớc khi chuyển đến cơ sở xử lý. + Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lƣu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối cùng.
+ Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn. 3 z + Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh. - Phân loại rác tại nguồn là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay gọi là từ nguồn. Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử lý rác về sau.
- Tái sử dụng chất thải đƣợc hiểu là có những sản phẩm hoặc nguyên liệu có quãng đời sử dụng kéo dài, ngƣời ta có thể sử dụng đƣợc nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học. - Tái chế chất thải thực chất là lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra sản phẩm mới. Nguồn phát sinh chất thải rắn CTR đƣợc phát sinh từ các nguồn khác nhau. Các nguồn phát sinh chất thải rắn (CTR) chủ yếu từ các hoạt động: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và thƣơng mại, khu dân cƣ, cơ quan, trƣờng học, bệnh viện.
Nhà Cơ quan, Nông Nơi công Bệnh Khu CN, Giao Dịch dân, trƣờng nghiệp, cộng (nhà viện, cơ nhà máy, thông, vụ khu dân học, công hoạt động ga, bến tàu sở y tế xí nghiệp, xây thƣơn cƣ sở xử lý rác xe, chợ.) xƣởng… dựng g mại thải Chất thải rắn Hình 1. Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn [15] 1. Thành phần chất thải rắn Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phƣơng, vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau nhƣ: Khu dân cƣ và 4 z thƣơng mại có thành phần chất thải đặc trƣng là chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác vƣờn, gỗ, nhôm.; Chất thải từ dịch vụ nhƣ rửa đƣờng và hẻm phố chứa bụi, rác, xác động vật, phụ tùng xe máy hỏng., chất thải thực phẩm nhƣ can sữa, nhựa hỗn hợp.
thể hiện cụ thể qua Bảng 1. Thành phần của chất thải rắn [15] Thành phần Định nghĩa Ví dụ 1. Các chất cháy đƣợc a. Giấy Các vật liệu làm từ giấy bột và Các túi giấy, mảnh bìa, giấy giấy vệ sinh b.
Hàng dệt Các nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon. Thực phẩm Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm Cọng rau, vỏ quả, thân cây, lõi ngô. Cỏ, gỗ, củi, Các sản phẩm và vật liệu đƣợc Đồ dùng bằng gỗ nhƣ bàn, rơm rạ chế tạo từ tre, gỗ, rơm. ghế, đồ chơi, vỏ dừa.
Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm đƣợc Phim cuộn, túi chất dẻo, chế tạo từ chất dẻo chai, lọ. Chất dẻo, đầu vòi, dây điện. Da và cao su Các vật liệu và sản phẩm đƣợc Bóng, giày, ví, băng cao chế tạo từ da và cao su su. Các chất không cháy a.
Các kim loại Các vật liệu và sản phẩm đƣợc Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, sắt chế tạo từ sắt mà dễ bị nam dao, nắp lọ. Các kim loại Các vật liệu không bị nam châm Vỏ nhôm, giấy bao gói, đồ phi sắt hút đựng. Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm đƣợc Chai lọ, đồ đựng bằng thủy chế tạo từ thủy tinh tinh, bóng đèn. Đá và sành sứ Bất cứ các vật liệu không cháy Vỏ chai, ốc, xƣơng, gạch, ngoài kim loại và thủy tinh đá, gốm.
Các chất hỗn Tất cả các vật liệu khác không Đá cuội, cát, đất, tóc. hợp phân loại trong bảng này. Loại này có thể chứa thành hai phần: kích thƣớc lớn hơn 5 mm và loại nhỏ hơn 5 mm 1. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng 1.
Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khoẻ cộng đồng Việc quản lý và xử lý CTR không hợp lý không những gây ô nhiễm môi trƣờng mà còn ảnh hƣởng rất lớn tới sức khoẻ con ngƣời, đặc biệt đối với ngƣời dân sống gần khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải. Ngƣời dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh da liễu, viêm phế quản, đau xƣơng khớp cao hơn hẳn những nơi khác. Các bãi chôn lấp rác cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác đối với cộng đồng làm nghề này. Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ,.
có thể là mối đe dọa nguy hiểm với sức khoẻ con ngƣời (lây nhiễm một số bệnh truyền nhiễm nhƣ HIV, AIDS,.) khi họ dẫm phải hoặc bị cào xƣớc vào tay chân,. Một vấn đề cần đƣợc quan tâm là, do chiếm tỷ lệ lớn trong những ngƣời làm nghề nhặt rác, phụ nữ và trẻ em đã trở thành nhóm đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng. Hiện tại chƣa có số liệu đánh giá đầy đủ về sự ảnh hƣởng của các bãi chôn lấp tới sức khỏe của những ngƣời làm nghề nhặt rác thải. Những ngƣời này thƣờng xuyên phải chịu ảnh hƣởng ở mức cao do bụi, mầm bệnh, các chất độc hại, côn trùng đốt/chích và các loại hơi khí độc hại trong suốt quá trình làm việc.
Vì vậy, các chứng bệnh thƣờng gặp ở đối tƣợng này là các bệnh về cúm, lỵ, giun, lao, dạ dày, tiêu chảy, và các vấn đề về đƣờng ruột khác. Hai thành phần chất thải rắn đƣợc liệt vào loại cực kỳ nguy hiểm là kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy.