MỞ ĐẦU Trước sức ép của người tiêu dùng và đòi hỏi của sự hội nhập về chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi nói chung và thịt lợn nói riêng, buộc ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng phải thay đổi cả về tư duy và phương thức sản xuất. Thực tế, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn đã và đang phát triển cả về qui mô và tính chuyên hóa. Từ sản xuất nông hộ, phân tán, nhỏ lẻ và tận dụng, xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở chăn nuôi sản xuất theo hướng hàng hóa, tập trung và quy mô lớn. Theo số liệu của Maps of Word, Việt Nam là một trong năm nước sản lượng thịt lợn lớn nhất Thế Giới.
Định hướng phát triển đến năm 2020 chăn nuôi cơ bản chuyển sang phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt 42%. Chăn nuôi lợn tăng bình quân 2% và đến năm 2020 đạt 35 triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi tại các trang trại chiếm 37%. Sự phát triển chăn nuôi lợn trong thời gian qua ngoài tác động do nhu cầu thị trường, định hướng và chính sách hỗ trợ của Chính phủ khuyến khích người chăn nuôi đầu tư sản xuất phát triển từ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa còn có sự đóng góp của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi.
Từ cung cấp vật tư, thức ăn, con giống và các dịch vụ chăn nuôi. Thực tế nghiên cứu và sản xuất đã cho thấy chất lượng thức ăn, thuốc thú y, hóa chất và các chế phẩm sinh học đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả chăn nuôi, chất lượng và sự an toàn của sản phẩm chăn nuôi. Chính vì vậy, thị trường thức ăn và các sản phẩm đầu vào khác ở nước ta trong thời gian qua phát triển mạnh và sôi động đã và đang thu hút được nhiều hãng và công ty sản xuất thức ăn trong và ngoài nước tham gia. Đây chính là động lực thúc đẩy sự cạnh tranh, thúc đẩy các công ty tích cực tìm các giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm qua đó thúc đẩy phát triển chăn nuôi.
Tuy nhiên, do sự phát triển quá nhanh trong bối cảnh hệ thống giám sát quản lý chất lượng ở nước ta còn nhiều hạn chế cả về nguồn nhân lực và vật lực, đặc biệt hệ thống cơ sở còn yếu nên thực tế còn nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến chất lượng không chỉ ảnh hưởng đến vật nuôi, người chăn nuôi mà còn ảnh hưởng đến môi trường và người tiêu dùng. 1 c Với vị trí thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học - kỹ thuật với các huyện trong Thành phố và các tỉnh khác trong vùng, cùng với nguồn nhân lực, đất đai dồi dào đã thúc đẩy huyện Gia Lâm trở thành khu đô thị vệ tinh của Thành Phố- Hà Nội. Trong đó, tỉ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông nghiệp đạt cao hơn so với bình quân chung của Thành phố và cả nước. Chăn nuôi theo phương thức công nghiệp với quy mô lớn đang ngày càng quan tâm đầu tư kéo theo sự gia tăng các dịch vụ, sử dụng và kinh doanh thức ăn công nghiệp.
Mặc dù chủ trương của UBND Thành phố cũng như huyện Gia Lâm là định hướng qui hoạch phát triển vùng chăn nuôi trọng điểm, bền vững, tạo thương hiệu sản phẩm sạch và an toàn cho người tiêu dùng nhưng việc kiểm soát đầu vào đang gặp khó khăn. Đặc biệt, cho đến nay vẫn chưa có dẫn liệu một cách khoa học và hệ thống về tình hình hoạt động kinh doanh và sử dụng thức ăn công nghiệp, thuốc thú y trong chăn nuôi trên địa bàn huyện. Công tác quản lý Nhà nước về chất lượng, hoạt động kinh doanh, buôn bán thức ăn công nghiệp, thuốc thú y có đáp ứng được đòi hỏi và yêu cầu định hướng phát triển chăn nuôi tập trung, hàng hóa hay không? Chất lượng thức ăn chăn nuôi có đảm bảo so với yêu cầu hay chưa? Các chỉ tiêu chất lượng và an toàn có đúng như công bố hay không? Đặc biệt các chỉ tiêu liên quan đến kháng sinh, chất cấm còn rất ít báo cáo đánh giá…. Chính vì vậy, đây vẫn là vấn đề khó khăn đặt ra cho lãnh đạo và phòng ban liên quan của huyện.
Trước yêu cầu của thành phố về việc lập qui hoạch phát triển vùng trọng điểm về chăn nuôi hàng hóa, cạnh tranh của huyện, đặc biệt để có cơ sở cho việc xây dựng chuỗi sản xuất hàng hóa có truy xuất nguồn gốc việc thực hiện đề tài “Tình hình quản lý chất lượng thức ăn dùng trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Lâm” là rất cần thiết. Mục tiêu: nắm bắt được hiện trạng chăn nuôi lợn, thực trạng cung cấp kinh doanh thức ăn chăn nuôi, công tác giám sát và thực trạng chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện. Ý nghĩa thực tiễn: kết quả đề tài sẽ là cơ sở cho việc xây dựng hệ thống giám sát nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện ngày càng phát triển theo hướng hàng hóa, cạnh tranh, an toàn và bền vững. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN GIA LÂM 2. Điều kiện tự nhiên 2.1 Vị trí địa lý Gia Lâm là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của thành phố Hà Nội: phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên; phía Tây giáp huyện Đông Anh, quận Long Biên và quận Hoàng Mai; phía Nam giáp huyện Thanh Trì và tỉnh Hưng Yên, phía Bắc giáp huyện Đông Anh và tỉnh Bắc Ninh. Gia Lâm nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như Quốc lộ 5, Quốc lộ 1, tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, các tuyến đường thủy trên sông Hồng, sông Đuống. Khi 2 tuyến giao thông huyết mạch là tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và tuyến đường Hà Nội - Hưng Yên chạy qua huyện được hoàn thành đưa vào sử dụng thì Gia Lâm càng thuận lợi hơn trong phát triển kinh tế và giao lưu thương mại.
Huyện Gia Lâm có vị trí địa lý hết sức thuận lợi trong phát triển kinh tế-xã hội và giao lưu thương mại. Khu vực nông thôn huyện Gia Lâm là địa bàn hấp dẫn các nhà đầu tư do có những lợi thế về địa lý kinh tế. Chính vì vậy, Gia Lâm được nhận định là một trong những địa phương cấp huyện phát triển nhanh và năng động trong tương lai. Diện tích tự nhiên và đặc điểm địa hình Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 11.472,99 ha, Huyện Gia Lâm thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng chung của địa hình và theo hướng dòng chảy của sông Hồng.
Tuy vậy, địa hình của huyện cũng khá đa dạng, làm nền tảng cho cảnh quan tự nhiên, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng và khu công nghiệp, đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của huyện. Khí hậu, thời tiết Huyện Gia Lâm mang các đặc điểm chung của khí hậu, thời tiết vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng: - Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô hanh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Giữa 2 mùa nóng ẩm và mùa khô hanh có các thời kỳ chuyển tiếp khí hậu tạo ra một dạng khí hậu 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. 3 c - Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,5oC, mùa nóng nhiệt độ trung bình tháng đạt 27,4oC.
- Lượng mưa trung bình năm 1400-1600 mm. Mưa tập trung vào mùa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8. - Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào gây nên những trận mưa rào, đôi khi bị ảnh hưởng của gió bão, áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống.
Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thường gây ra lạnh và khô ở những tháng đầu mùa, lạnh và ẩm ướt vào tháng 2, tháng 3 do có mưa phùn. Đôi khi có sương mù, rét đậm trong các tháng 12 và tháng 1 gây ra những thiệt hại cho sản xuất, chăn nuôi. Các đặc điểm khí hậu, thời tiết cho phép huyện Gia Lâm phát triển một nền nông nghiệp đa dạng: Nông sản Nhiệt đới, Cận nhiệt đới có thể sản xuất vào mùa Hạ, nông sản Á nhiệt đới có thể sản xuất vào mùa Xuân, mùa Thu, nông sản Ôn đới có thể sản xuất vào mùa Đông, mùa Xuân song cũng gây ra những thiệt hại đáng kể cho sản xuất và đời sống khi thời tiết bất thuận. Đặc điểm kinh tế - xã hội 2.
Tình hình kinh tế Huyện Gia Lâm sau khi điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP có 22 đơn vị hành chính cấp xã gồm 2 thị trấn: và 20 xã. Trong những năm qua, kinh tế huyện Gia Lâm có những bước phát triển mạnh mẽ. Bộ mặt nông thôn có những bước phát triển khởi sắc: Chất lượng cuộc sống người dân ngày càng được nâng lên; các ngành kinh tế tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực; cơ giới hóa có bước tiến bộ; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn ngày càng hoàn thiện; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được cải thiện nhanh; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, quyền dân chủ được phát huy, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn được giữ vững. Các mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế cơ bản đã hoàn thành, giá trị các ngành kinh tế tăng bình quân hàng năm 10,08%, Công nghiệp thương mại , dịch vụ tăng 34,6%.
Nông, lâm nghiệp – thủy sản tăng 13,59%. Phát triển kinh tế xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Thành phố Hà Nội, đang được Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đặc biệt quan tâm. 4 c Ngày 25/05/2010 UBND thành phố đã phê duyệt đề án “Xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030. Do vậy, việc nghiên cứu lập đề án “Xây dựng nông thôn mới huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng 2030” là công việc quan trọng và mang tính cấp bách.