Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chất lượng học tập của học viên Chất lượng là một khái niệm trừu tượng. Dưới những giác độ khác nhau, chủ thể khác nhau, chất lượng được nhìn nhận, đánh giá khác nhau.
Cũng như khái niệm “văn hoá”, khái niệm “chất lượng” thường mang nhiều tính cảm tính hơn là lượng tính. Tuy nhiên, khái niệm chất lượng, theo một số nhà khoa học được hiểu như sau: Theo khái niệm truyền thống, một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền. Nó nổi tiếng và tôn vinh cho người sở hữu nó. Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác.
Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia”. Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO): “Chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai”. Một định nghĩa khác về chất lượng thể hiện rõ cách xác định và đánh giá chất lượng giáo dục: “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”. Có thể hiểu mục tiêu như mét cây chỉ số và việc đánh giá đối tượng ra sao phụ thuộc vào tỷ lệ giữa cây chỉ số và thực tế của hành vi.
Luan van 17 Về chất lượng giáo dục, có nhiều cách hiểu khác nhau: Chất lượng giáo dục là đạt tới sự tuyệt hảo: Thường dùng ở các trường Đại học, không phổ biến ở các bậc học khác. Khả năng vươn tới và đạt được tiêu chí đánh giá này là rất khó. Nếu sử dụng tiêu chí này để đánh giá thì trường có chất lượng sẽ rất ít và nếu có chỉ là những trường nổi tiếng, các trường khác sẽ bị coi là kém chất lượng. Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng: Nhu cầu luôn đa dạng, phong phú và luôn biến đổi.
Chất lượng không chỉ đơn thuần là trình độ học tập, rèn luyện trong nhà trường mà còn thể hiện bằng hiệu quả sử dụng những phẩm chất năng lực của học viên vào hoạt động thực tiễn. Chất lượng giáo dục không chỉ dừng lại ở kết quả giáo dục, đào tạo ở trong nhà trường mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của học viên với yêu cầu xã hội. Chất lượng phải đáp ứng được nhu cầu khách hàng, đó là: học sinh, sinh viên, gia đình học sinh - sinh viên, cơ sở sử dụng học viên,… Chất lượng giáo dục được hiểu là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục: Mục tiêu giáo dục luôn đa dạng, phong phú, tổng quát chung cho từng cấp học, ngành học, bậc học,. thể hiện sự đòi hỏi của xã hội đối với con người, yếu tố cấu thành nguồn nhân lực mà giáo dục phải đào tạo.
Các mục tiêu này có tiêu chí cụ thể, do vậy dễ đánh giá chất lượng. Như vậy, có thể coi chất lượng giáo dục chính là chất lượng con người được đào tạo thông qua các hoạt động giáo dục theo các mục đích đã xác định từ trước. Đó chính là nhân cách con người được giáo dục. Khi nói về chất lượng, các tác giả đều đề cập đến một điểm chung nhất đó là sự biến đổi rõ rệt về chất làm cho sự vật (sự việc) sau tốt hơn trước.
Theo quan điểm triết học, chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật, hiện tượng. Luan van 18 Chất lượng là một khái niệm đa chiều, hàm chứa nhiều yếu tố cả định lượng và định tính. Tuy nhiên, quan niệm về chất lượng giáo dục ở nước ta chưa được hiểu một cách thống nhất, đầy đủ và đồng bộ. Khái niệm chất lượng giáo dục có lúc bị nhầm lẫn, đồng nghĩa chất lượng giáo dục với chất lượng thi cử.
Đáng tiếc cách hiểu này đang được nhiều người coi là chuẩn mực trong đánh giá giáo dục. Một biểu hiện rất rõ: sự quan tâm chủ yếu của các nhà quản lý giáo dục, từ các cấp quản lý hệ thống tới các cấp quản lý nhà trường, tập trung cao nhất vào các kỳ thi để rồi lấy kết quả thi làm thước đo quan trọng nhất đối với chất lượng một học viên. Từ quan niệm đó, nên các yếu tố khác trong tổng thể các yếu tố trực tiếp cấu thành chất lượng giáo dục đã bị coi nhẹ, thậm chí bị bỏ qua. Bởi vậy, trong thực tế, những nơi có nhiều mặt yếu kém nhưng tỷ lệ thi đỗ cao vẫn được xem là có chất lượng tốt.
Từ đây đã nảy sinh một hiện tượng phổ biến là từ giáo viên đến học viên, từ những người quản lý cấp cơ sở đến những người quản lý cấp trên đua nhau chạy theo tỷ lệ thi đỗ. Số trường tỷ lệ thi đỗ tới 95-100% không còn là hiện tượng cá biệt. Và theo logic của cách hiểu trên, chất lượng giáo dục như thế là tốt. Chỉ đến khi học viên ra trường không hoàn thành được nhiêm vụ, chức trách được giao, thực trạng yếu kém mới bộc lộ.
Từ các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra khái niệm về chất lượng học tập của học viên như sau: chất lượng học tập của học viên là tổng hợp các giá trị về phẩm chất và năng lực được hình thành và phát triển trong quá trình học tập ở nhà trường. Chất lượng học tập của học viên được thể hiện ở những vấn đề sau: Một là, chất lượng học tập của học viên là tổng hòa của các yếu tố, các phẩm chất, các kiến thức, các kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp được hình thành và phát triển trong quá trình học tập tại nhà trường. Nói cách khác, chất lượng học tập của học viên chính là sự chuyển hóa các mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường thành phẩm chất, năng lực của họ. Luan van 19 Hai là, chất lượng học tập của học viên biểu hiện ở mức độ nắm kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn nghiệp vụ, trình độ phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và các giá trị phẩm chất, nhân cách như: chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa… được hình thành ở học viên trong quá trình học tập và sau khi học tập.
Như vậy, chất lượng học tập của học viên chính là sự biến đổi về chất của bản thân học viên là “giá trị gia tăng” mà học viên có được trong quá trình học tập tại trường. Ba là, chất lượng học tập của học viên còn được biểu hiện ở khả năng và trình độ vận dụng một cách sáng tạo các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn vào xử lý các tình huống thực tiễn. Bốn là, chất lượng học tập của học viên biểu hiện ở đáp ứng đầy đủ các chuẩn, mục tiêu đào tạo của nhà trường đặt ra và sự phù hợp của sản phẩm đào tạo (học viên) đối với nhu cầu của xã hội. Theo quan niệm chất lượng giáo dục của các nhà nghiên cứu phương Tây thì đó chính là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Khái niệm quản lý chất lượng học tập của học viên Quản lý chất lượng là thuật ngữ được sử dụng để miêu tả các phương pháp hoặc quy trình được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá xem các sản phẩm có đảm bảo được các thông số chất lượng theo yêu cầu, mục đích đã định sẵn không. Có nhiều chu trình quản lý chất lượng khác nhau, trong đó đáng chú ý là đề xuất của tác giả U. Theo tác giả, chu trình quản lý bao gồm các bước: Kế hoạch, Tổ chức thực hiện, Kiểm tra, Tác động, tạo thành chu trình quản lý khép kín. Luan van 20 Trong đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo là quá trình tổ chức thực hiện có hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ quá trình đào tạo nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động (từ khâu tìm hiểu nhu cầu thị trường lao động, thiết kế chương trình, đến công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo).
Quá trình phát triển của quản lý nói chung đi từ mô hình hành chính tập trung (mọi chuyện được kiểm tra, kiểm soát) đến các hình thức phi tập trung hơn. Quản lý chất lượng cũng phát triển cùng quá trình quản lý từ giai đoạn mà trọng tâm là kiểm soát chất lượng sang bảo đảm chất lượng và quản lý chất lượng tổng thể. Trong giáo dục có ba mô hình quản lý chất lượng được các nhà quản lý giáo dục quan tâm nhiều nhất là: - Mô hình BS 5750/ISO 9000. - Mô hình quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management - TQM) của Ashworth và Harvey (1994).
- Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model) của Seameo (1999). Mô hình này đưa ra 5 yếu tố để đánh giá chất lượng giáo dục, đó là: * Đầu vào: học viên, cán bộ trong trường, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, quy chế, luật định, tài chính,… * Quá trình đào tạo: phương pháp và quy trình, quản lý đào tạo… * Kết quả đào tạo: mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được và khả năng thích ứng của học viên. Luan van 21 * Đầu ra: kết quả tốt nghiệp, nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội. * Hiệu quả: kết quả của đào tạo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Trong 3 mô hình trên, mô hình BS 5750/ISO 9000 còn xa lạ với giáo dục do nguồn gốc xuất phát từ lĩnh vực sản xuất hàng hoá nên ngôn ngữ trong bộ tiêu chuẩn này không phù hợp.
Mặc dù vậy, nó vẫn được xem là nền móng cho mô hình TQM. Mỗi mô hình quản lý chất lượng đều có mặt ưu việt riêng, để tập trung vào hướng nghiên cứu của đề tài, tác giả chủ yếu tiếp cận mô hình quản lý chất lượng tổng thể.