phần mở đầu, phụ lục, danh mục viết tắt, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng phẩm chất nhà giáo cho đội ngũ GVMN. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng phẩm chất nhà giáo cho đội ngũ GVMN tại Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng phẩm chất nhà giáo cho đội ngũ GVMN tại Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG PHẨM CHẤT NHÀ GIÁO CỦA ĐỘI NGŨ GVMN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dƣỡng phẩm chất nhà giáo cho đội ngũ GVMN Đội ngũ GVMN đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông như hiện nay, thì mỗi giáo viên cần phải thường xuyên được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để không ngừng cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực nghề nghiệp, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội và nâng cao chất lượng giáo dục. Vì vậy vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng phẩm chất nhà giáo cho đội ngũ giáo viên đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước.
Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Trong lĩnh vực xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên, nhà giáo dục học Xukhômlinxki, V. Giáo dục con người chân chính như thế nào. Xukhômlinxki đã từng yêu cầu: “Phải bồi dưỡng ĐNGV, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn giáo viên bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những giáo viên tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng các biện pháp khác nhau”. Tác giả này cho rằng phải bồi dưỡng cả về chuyên môn nghiệp vụ, lẫn phẩm chất đạo đức cho đội ngũ giáo viên.
Ông rất đề cao tầm quan trọng của việc tổ chức hội thảo chuyên môn, qua đó giáo viên có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình. Belinova và cộng sự (2017) đã nêu các điều kiện sư phạm về đạo đức nghề nghiệp của các giáo viên tương lai được cho là một trong những định hướng nhất thời của đào tạo giáo viên trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của đạo đức con người và lý tưởng nhân văn và nguyên tắc cụ thể cho nghề sư phạm. Đạo đức nghề nghiệp của giáo viên được công nhận là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu các biểu hiện của đạo đức và các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp trong giảng dạy, mô hình hành vi và các mối quan hệ khác. Feeney và cộng sự (1999) đề cập đến Bộ quy tắc đạo đức liên quan đến những thách thức đạo đức độc đáo mà các nhà giáo dục phải đối mặt.
Trình bày một quan niệm 9 về trách nhiệm nghề nghiệp trong sáu lĩnh vực: trẻ em và gia đình, học sinh trưởng thành, chương trình tổ chức sinh viên thực tập và nhân viên và khách hàng của chương trình, đồng nghiệp, cơ quan/ tổ chức sử dụng lao động, và lĩnh vực chăm sóc và giáo dục sớm. Bao gồm thông tin về cách các hướng dẫn thực hiện hành vi đạo đức. Japan (1986) nêu rõ tại đất nước này, việc bồi dưỡng và đào tạo là nhiệm vụ bắt buộc đối với đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Tùy vào điều kiện thực tế của nhà trường và lực lượng tham gia mà nhà quản lý sẽ đề ra cách thức, phương pháp bồi dưỡng khác nhau.
Giáo viên là lực lượng nồng cốt góp phần phát triển chất lượng giáo dục thông qua sự nỗ lực cá nhân và quá trình quản lý. Ozturk (2010) nói về đạo đức nghề nghiệp là một điều cần thiết cho mỗi giáo viên. Giáo viên có đạo đức nghề nghiệp thì sẽ ảnh hưởng tốt đến học sinh, giúp cho học sinh có nhận thức đúng đắn về các hành vi ứng xử và các qui tắc trong xã hội. Đạo đức nghề nghiệp là một trong những nhân tố hình thành phẩm chất tốt của người giáo viên.
Mỗi giáo viên phải không ngừng học tập, rèn luyện, bồi dưỡng thì mới trở thành người giáo viên chuẩn mực cho học sinh noi theo. Oktay và cộng sự (2010) đề cập đến vấn đề đạo đức là lập trường và thái độ làm nên một con người xã hội; hiển thị các hành vi như khen ngợi, chỉ trích, khoan dung và không khoan dung, xác nhận và từ chối; việc thể hiện các phẩm chất cá nhân bằng cách nêu những gì người ta thấy tốt hay xấu, đúng hay sai, thay vì thờ ơ với những gì người khác nói và làm. Phát triển đạo đức cần phải được dạy tại trường học từ những năm hình thành nhân cách của trường mầm non để nuôi dạy các cá nhân với ý thức mạnh mẽ về đạo đức. Nhân tố tác động trực tiếp tới đạo đức phải thông qua hoạt động của người quản lý giúp giáo viên tự học, tự bồi dưỡng cũng như việc thể hiện các phẩm chất cá nhân thông qua thực hành hằng ngày.
Hành vi biểu hiện của giáo viên. Khoa học Tâm lý và Giáo dục. Tác giả đã chỉ ra sự bất đồng về quan điểm “ổn định cảm xúc của giáo viên”. Tác giả coi đó như một tài sản của tâm hồn, nhờ đó giáo viên có thể thực hiện thành công các hoạt động cần thiết.
Một giáo viên thường xuyên hợp tác với trẻ, ngoài sự ổn định về cảm xúc, cần có sự nhạy cảm, nhạy bén, khả năng vận động và tính nghệ thuật. Tác giả đề cập chính những đặc điểm này đã được bao hàm trong khái niệm “tính biểu cảm của giáo viên”. 10 Dementy và cộng sự ( 2017). Các vấn đề đạo đức khi nuôi dạy một đứa trẻ ở nhà trẻ và ở nhà.
Tác giả cho rằng trong khoảng này làm việc của người giáo viên thì trách nhiệm được coi là không thể thiếu đặc điểm nhân cách con người thể hiện ở hành vi có ý thức, chủ động, đó là cơ sở của nhân cách và quyết định hoạt động sống của đứa trẻ. Tác giả nêu lên vấn đề nhận thức về tầm quan trọng yếu tố tình cảm của giáo viên và cha mẹ trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Giúp trẻ xác định được vấn đề tốt hơn và qua đó xác định vai trò của thái độ cảm xúc của trẻ đối với yêu cầu của cha mẹ, cô giáo trong mọi việc trở nên có trách nhiệm hơn. MBDOU và cộng sự ( 2018).
Sự cần thiết và khả năng nâng cao đạo đức giao tiếp giữa các dân tộc ở trẻ em. Tác giả nêu lên sự tôn trọng đối với các dân tộc khác nhau giữa trẻ em mẫu giáo, nhiều cách khác nhau và phương tiện giáo dục quốc tế của trẻ em. Thay đổi hoàn cảnh tâm lý xã hội trong xã hội yêu cầu tăng cường chú ý đến vấn đề nhân văn giáo dục, thành phần quan trọng nhất của nó là sự hình thành văn hóa cao về thái độ đối với chính mình và các dân tộc khác. Đặc biệt ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, “một đứa trẻ không chỉ nhằm vào môi trường chủ thể-hoạt động, mà còn hướng đến phạm vi quan hệ giao tiếp, ứng xử với người khác.
Từ những thay đổi đó sẽ giúp trẻ em thích nghi và thuận lợi hơn trong giao tiếp. Dự án Việt – Bỉ (hỗ trợ học từ xa), tác giả Michel Develay trong cuốn “Một số vấn đề về đào tạo giáo viên” đã nhấn mạnh việc đào tạo GV bao gồm nhiều vấn đề như: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp”. Qua đó, tác giả đã bổ sung, làm phong phú thêm vào một số vấn đề lý luận về hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV. Tác giả Fiedeich Wiliam Taylor (1856-1915); Henri Fayol (1841-1925) và Max Weber (1864-1920) chia sẻ quan điểm: “Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy của xã hội.
Trong bất cứ lĩnh vực nào của xã hội thì quản lý luôn giữ vai trò trong việc điều hành và phát triển. Trong lĩnh vực GD&ĐT, quản lý là nhân tố giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục”. Các tác giả cũng đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của người quản lý, là mấu chốt thực hiện các chức năng quản lý, tổ chức đào tạo bồi dưỡng giáo viên từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục. Hai tác giả Gabršček, Roeders chỉ ra tầm quan trọng của việc lấy ý kiến phản hồi của GV về chương trình bồi dưỡng, hình thức và phương pháp bồi dưỡng và cho rằng cần 11 phải tiến hành các đánh giá này một cách có hệ thống.
Dutto, Gabršček, Roeders đều cho rằng nhiệm vụ của các nhà quản lý giáo dục là phải tìm ra các giải pháp bồi dưỡng GV có hiệu quả, tìm ra các sáng kiến mới và giải pháp mới. Bản thân họ cũng phải nâng cao kĩ năng QL để QL và tổ chức tốt quá trình bồi dưỡng. Các tác giả cũng đã chỉ ra trong quá trình bồi dưỡng rất cần thiết việc lấy ý kiến phản hồi từ đội ngũ được tham gia quá trình bồi dưỡng, từ đó, phân tích sự cần thiết, mức độ phù hợp về các nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng, là kênh thông tin để làm căn cứ để có những thay đổi trong kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV, phù hợp với những yêu cầu mới đã và đang đặt ra cho giáo dục. Nghiên cứu của nhóm các tác giả Ge, D.(2021), nghiên cứu về đề tài “A teaching quality evaluation model for preschool teachers based on deep learning”.
Trong bài nghiên cứu này để xem xét tầm quan trọng của chất lượng giảng dạy của giáo viên mầm non đối với thành tích học tập suốt đời. Muốn đạt được điều đó thì giáo viên không ngừng học tập và tự bồi dưỡng cá nhân. Nhóm tác giả đã thiết kế một mô hình đánh giá chất lượng giảng dạy cho giáo viên mầm non dựa trên phương pháp học sâu. Thứ nhất, một hệ thống tiến bộ với cấu trúc phân cấp đã được phát triển cho các chỉ số đánh giá liên quan.
Sau đó, đánh giá mờ nhạt một cách toàn diện từng lớp chỉ số và tiêu chí đánh giá được xác định bằng nguyên tắc tổng hợp.