Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Ở ngoài nước Hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Khoa học hướng nghiệp chỉ thực sự trở thành một ngành khoa học riêng biệt vào thế kỷ 19, thời kỳ sản xuất xã hội và sự trỗi dậy của các phong trào ủng hộ giải phóng con người trên toàn cầu.
Các công trình nghiên cứu về hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với học sinh. Hướng nghiệp là một hoạt động vô cùng quan trọng không thể bỏ qua trong bất kỳ hệ thống giáo dục nào, hướng nghiệp góp phần đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế và thậm chí cả đất nước. Trong khi đó, Holland (1940) đã tiến hành nghiên cứu về các loại tính cách, phẩm chất và sở thích công việc [12]. Holland (1940) đã kết luận rằng nghề nghiệp khác nhau phù hợp với từng loại tính cách và phẩm chất khác nhau.
Phần lớn các nghiên cứu trong giai đoạn trước năm 1980 đều xuất phát từ thực tế xã hội và yêu cầu thực tế của thế hệ trẻ trong việc xác định nghề nghiệp trong tương lai. Trong khi đó, Benavot (1983) [10] thì cho rằng có bốn mục tiêu cơ bản của tư vấn hướng nghiệp và giáo dục nghề nghiệp đó là: (1) chuẩn bị cho cuộc sống và làm việc trong tương lai; (2) định hướng và phát triển năng lực phù hợp với nghề nghiệp đã chọn; (3) hỗ trợ đáp ứng sự phát triển liên tục trong suốt cuộc đời làm việc bởi vì các yêu cầu liên quan đến các công việc thay đổi theo thời gian; và (4) cung cấp kinh nghiệm giáo dục hỗ trợ chuyển đổi từ nghề này sang 8 nghề khác khi lựa chọn hoặc buộc phải thay đổi nghề nghiệp trong suốt cuộc đời làm việc. Lum (2003) [13] quan tâm nhiều hơn đến việc giáo dục hướng nghiệp trong các trường phổ thông và khuyến khích các giáo viên lập kế hoạch định hướng nghề nghiệp cho học sinh thông qua các bài giảng hàng ngày trên lớp trong đó bao gồm các hoạt động nhóm hoặc các sự kiện đặc biệt như dã ngoại, chọn sách, phim, clip và các hình thức truyền thông đại chúng khác. Có rất nhiều sự kiện độc đáo dành cho học sinh giúp các em hiểu được mối quan hệ giữa trải nghiệm cuộc sống của chính mình với mục tiêu nghề nghiệp của các em trong tương lai.
Lum (2003) [13] thì cho rằng khi thực hiện các hoạt động hướng nghiệp nên giải thích rằng có rất nhiều kỹ năng nghề nghiệp quan trọng mà học sinh cần phải được đào tạo ngoài các kiến thức chuyên môn có thể kể đến là kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, lập kế hoạch. Các kỹ năng này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công việc và cuộc sống. Tư vấn hướng nghiệp và giáo dục nghề nghiệp được thiết kế để giúp học sinh “sẵn sàng làm việc” sau khi tốt nghiệp. Giáo dục nghề nghiệp thường cung cấp giáo dục thực tế, vì vậy sinh viên phát triển các kỹ năng cụ thể của ngành cho phép họ có thể tham gia ngay vào các hoạt động nghề nghiệp.
Pascual (2014) khẳng định tầm quan trọng của tư vấn hướng nghiệp khi cho rằng tư vấn hướng nghiệp giúp học sinh xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nghiệp của học sinh và giúp học sinh đánh giá sở thích, khả năng và giá trị của mình. Tư vấn hướng nghiệp còn học sinh xác định vị trí tài nguyên và nguồn thông tin nghề nghiệp, từ đó xác định các bước tiếp theo và phát triển một kế hoạch để đạt được mục tiêu nghề nghiệp của mình [15]. Một trong những nghiên cứu mới nhất về hướng nghiệp là của học giả Chintokoma (2022). Cụ thể, Chintokoma (2022) cho rằng tỷ lệ thất nghiệp thường liên quan đến việc chọn sai ngành học của học sinh.
Với nghiên cứu này, nghiên cứu đã xác định được các yếu tố chủ quan cũng như khách quan ảnh hưởng đến sở thích và lựa chọn nghề nghiệp của học sinh [11]. Bên cạnh đó, Tổ 9 chức Lao động Quốc tế (ILO) đã có nhiều khuyến nghị đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển về giáo dục nghề nghiệp gắn với thị trường lao động để tạo việc làm và phân công lao động ở mỗi quốc gia. Những đề xuất đó hiện đang được các quốc gia trên thế giới rất quan tâm và đưa vào thực hiện trong chương trình giáo dục. Các quốc gia đều nhận thấy sự cần thiết phải giám sát các hoạt động giáo dục nghề nghiệp vì đào tạo nghề góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Ở Australia, chương trình giáo dục nghề nghiệp gắn với chương trình đào tạo theo thị trường lao động rất được chú trọng nhằm thực hiện sự gắn kết mục tiêu đào tạo trong nhà trường. Các trường dạy nghề ở Châu Âu thì lại chú trọng vào công tác lập kế hoạch và quản trị hoạt động tư vấn hướng nghiệp. Trong khi đó, Hoa Kỳ đi tiên phong trong việc xây dựng hệ thống thông tin liên quan đến thị trường lao động. Thông tin về thị trường lao động là rất quan trọng đối với các trường dạy nghề ở Hoa Kỳ khi họ thực hiện giáo dục nghề nghiệp.
Việc quản lý thông tin thị trường lao động là một cấu phần chính của hoạt động quản lý giáo dục nghề nghiệp. Các quốc gia trên khắp thế giới từ lâu đã quan tâm đến giáo dục nghề nghiệp và hoạt động hướng nghiệp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục nghề nghiệp, mỗi nhà trường, cơ sở giáo dục phải phát triển đội ngũ làm công tác tư vấn hướng nghiệp. Do đó, việc giám sát và phát triển hoạt động tư vấn hướng nghiệp trở thành một nhiệm vụ sống còn đối với mỗi trường học, khu vực và quốc gia, vì vậy, việc bồi dưỡng tư vấn hướng nghiệp cho các giáo viên sẽ góp phần đóng góp tích cực đến lực lượng lao động, thị trường lao động và sự phát triển của đất nước.
Như vậy, các nước khác trên thế giới có nhiều cách thức khác nhau để bồi dưỡng giáo viên trong công tác tư vấn hướng nghiệp, tùy thuộc vào hoàn cảnh, tình hình giáo dục và phát triển nghề nghiệp của mỗi nước. Ở Nhật Bản, các trường đào tạo giáo viên và các tổ chức đào tạo hướng nghiệp đã thành lập mạng lưới chuyên gia tư vấn hướng nghiệp để đào tạo và bồi dưỡng giáo viên. Các giáo viên được đào tạo về các kỹ năng tư vấn, cập nhật thông tin về các chương trình 10 giáo dục và nghề nghiệp, và hỗ trợ học sinh trong việc lên kế hoạch tương lai. Tuy nhiên, một số giáo viên vẫn cảm thấy khó khăn trong việc áp dụng các kỹ năng tư vấn vào thực tế.
Trong khi đó tại Mỹ, các trường đại học và tổ chức đào tạo hướng nghiệp đưa ra các khóa học và chứng chỉ đào tạo để giáo viên có thể cập nhật kiến thức và kỹ năng tư vấn hướng nghiệp. Ngoài ra, Mỹ cũng đưa ra các chương trình hỗ trợ học sinh đặc biệt, như chương trình học sinh nghèo và học sinh vùng đồng bằng, để giúp học sinh có điều kiện tiếp cận tư vấn hướng nghiệp. Tuy nhiên, một số khó khăn vẫn tồn tại trong việc tư vấn hướng nghiệp cho các học sinh vùng nông thôn và các học sinh có nhu cầu đặc biệt. Còn ở Úc, các tổ chức đào tạo hướng nghiệp cung cấp các khóa học và chứng chỉ đào tạo cho giáo viên và cố vấn hướng nghiệp.
Các giáo viên và cố vấn hướng nghiệp còn được tham gia các buổi hội thảo, tập huấn và chương trình thực tập để cập nhật kiến thức và kỹ năng mới. Ở trong nước Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu sâu rộng về cơ sở lý luận của tư vấn hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp, khái quát hóa mục tiêu, nội dung và lựa chọn nghề nghiệp ở trường phổ thông, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của tư vấn hướng nghiệp và giáo dục nghề nghiệp ở ngay trong lớp học. Các công trình khoa học của các tác giả nói trên là cơ sở lý luận và thực tiễn cho chương trình giáo dục hướng nghiệp hiện đang được triển khai theo chương trình giáo dục phổ thông 2006 và chương trình giáo dục phổ thông 2018. Vào những năm 1960, Việt Nam bắt đầu hình thành lý thuyết và thực hành tư vấn hướng nghiệp, phần lớn dựa trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của một số nước trên thế giới.
Ban đầu, quan niệm về tư vấn nghề nghiệp gắn với giáo dục lao động, để hướng sinh viên vào nghề nghiệp, điều cần thiết trước tiên là chuẩn bị cho họ tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp. Đầu những năm 1980, các công trình nghiên cứu nhấn mạnh trách nhiệm của nhà trường trong việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh, đưa ra một số phương thức tư vấn cho học sinh, đồng 11 thời xây dựng những nền móng đầu tiên về tư vấn hướng nghiệp và giáo dục nghề nghiệp. Trong khi đó, các tác giả tập trung vào việc phát triển giáo dục nghề nghiệp ở các trường phổ thông trong năm 1987 đến 1997 và đề cập đến nhiều loại hình giáo dục và đào tạo nghề khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra các đề xuất về cách nâng cao tiêu chuẩn giáo dục nghề nghiệp và tư vấn hướng nghiệp ở các trường phổ thông trong giai đoạn từ năm 1998 đến 2008.
Đã có một số nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp từ năm 2009. Nguyễn Thị Nhung (2009) [5] tập trung nghiên cứu hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở vùng Tây Bắc. Phạm Văn Khánh (2012) ) [3] thì nghiên cứu thực hiện các nội dung, hoạt động hướng nghệp trong môn khoa học tự nhiên. Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một cái nhìn bao quát về hoạt động giáo dục hướng nghiệp và nêu bật những đặc điểm cơ bản của định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Các công trình khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hầu hết các học giả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tư vấn hướng nghiệp và giáo dục nghề nghiệp trong các cơ sở giáo dục phổ thông, các cơ sở dạy nghề đối với lực lượng lao động, thị trường lao động và đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiện nay, hoạt động giáo dục hướng nghiệp đang được triển khai rộng rãi ở các trường phổ thông ở Việt Nam.