Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SƯ PHẠM DẠY NGHỀ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng giảng viên, giáo viên cũng được các nhà khoa học quan tâm với mục đích tăng cường quản lý của nhà quản lý để nâng cao chất lượng bồi dưỡng. Khi tiếp cận các công trình nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng có nhiều cách tiếp cận để mô tả lịch sử nghiên cứu vấn đề, vì luận văn của tác giả đi theo tiếp cận chức năng quản lý về quản lý bồi dưỡng giáo viên nên tổng quan nghiên cứu vấn đề cũng sẽ mô tả, thống kê các công trình nghiên cứu theo hướng các chức năng quản lý.
a) Về lập kế hoạch bồi dưỡng các tác giả Trần Kiểm, Đinh Văn Vang, Bùi Văn Quân. nhấn mạnh nhiều đến vai trò lập kế hoạch, các bước của lập kế hoạch bồi dưỡng, “Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn phương án tối ưu, tiết kiệm tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức”, “Việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những phương tiện, điều kiện cần thiết trong một thời gian, nhất định của hệ thống quản lý và chủ thế quản lý” [22]. Các tác giả Lê Thị Bạch Tuyết, Phan Thị Châu, Nguyễn Bích Hạnh đã nêu ra các kĩ năng lập kế hoạch chung như thu thập xử lý thông tin, xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, cụ thể sắp xếp thứ tự các vấn đề ưu tiên, xây dựng mục tiêu và các giải pháp thực hiện, bố trí con người, chuẩn bị tài chính. Tác giả Vương Thanh Hương cho rằng việc lập kế hoạch giáo dục không thành công do các nguyên nhân khác nhau như “Giáo dục không phải là khoa học chính xác, trong giáo dục tồn tại nhiều yếu tố quản lý, chính trị và các trở ngại xã hội, do vậy lập kế hoạch giáo dục cần phải xem xét trong bối cảnh hài hòa về kinh tế, chính trị, xã hội” [18].
6 c b) Về tổ chức bồi dưỡng các tác giả Nguyễn Trọng Thuyết, Vũ Lan Hương, Đặng Thành Hưng, Trương Thị Minh, Trần Bá Hoành. đề cập nhiều đến việc tổ chức, hình thức, chương trình bồi dưỡng. như tác giả Đặng Thành Hưng khẳng định chuẩn nghề nghiệp giúp cho việc tổ chức nhân sự trong bồi dưỡng đúng đắn hơn, tránh được rất nhiều sơ xuất vì báo cáo viên hoặc tập huấn kém chất lượng, không đủ trình độ huấn luyện đúng yêu cầu [15]. c) Về kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng đặc biệt được quan tâm vì đây là mắt xích cơ bản tạp nên thành công của quản lý bồi dưỡng, các tác giả Nguyễn Trọng Thuyết, Phùng Xuân Kha, Lê Quân, La Hồng Huy, Trần Bá Hoành có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Các tác giả đã viết “Không có một quy chế đánh giá, kiểm định kết quả bồi dưỡng một cách cụ thể, rõ ràng rồi đánh giá kết quả theo kiểu bồi dưỡng dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng giáo dục không chính xác và hiệu quả. Các luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục về quản lý bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên đã có một số công trình nhưng tập trung vào quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Mầm non, THPT, THCS. như các luận văn: “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của hiệu trưởng trường Mầm Non công lập quận Lê Chân thành phố Hải Phòng” của Vũ Thị Thanh Uyên (2009). “Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non ngoài công lập thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (2010)” của Nguyễn Hải Yến; “Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên THPT huyện Thanh Oai, Hà Nội theo hướng chuẩn hóa” của tác giả Nguyễn Văn Chính (2014); “Biện pháp tổ chức bồi dưỡng kĩ năng quản lý cho tổ trưởng chuyên môn trường THPT thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng” (2012) của Đặng Thành Long.
“Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên Mầm non thành phố Thái nguyên” (2009) của tác giả Lưu Thị Kim Phượng; “Biện pháp quản lý đào tạo nghề ở trường trung cấp Xây dựng Uông Bí - Quảng Ninh” (2010) của tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu; “Biện pháp quản lý hoạt 7 c động bồi dưỡng giáo viên dạy nghề ở trường Trung cấp nghề Bắc Kạn” (2013) của tác giả Nông Thị Ngân. Nhận xét: - Các nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng nguồn nhân lực giáo dục đa dạng nhưng tập trung nhiều vào mầm non, các cấp phổ thông khác như THCS, THPT, còn các nghiên cứu bồi dưỡng giảng viên đại học, cao đẳng và trung cấp nghề chưa nhiều, đặc biệt sau khi có chuẩn nghề nghiệp. - Quản lý bồi dưỡng giáo viên trường nghề theo chuẩn nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu còn trống vắng còn chưa được nghiên cứu. Vì vậy việc lựa chọn nghiên cứu “Quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm dạy nghề cho giáo viên trường trung cấp nghề tỉnh Lai Châu theo chuẩn nghề nghiệp” là cần thiết để có cơ sở khoa học đưa ra các biện pháp quản lý bồi dưỡng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường trung cấp nghề.
Khái niệm quản lý Từ ý kiến của các nhà khoa học ngoài nước A. và ý kiến của các nhà khoa học trong nước như Nguyễn Minh Đạo [8], Phạm Minh Hạc [12], Đỗ Hoàng Toàn [30], Trần Kiểm - Nguyễn Xuân Thức [20], Trần Khánh Đức [10], Đặng Vũ Hoạt [23]. Có thể nhận thấy khi nói đến quản lý các tác giả đều thống nhất một số điểm cơ bản sau: - Đó là trả lời câu hỏi: Ai quản lý? (chủ thể quản lý); quản lý ai?(khách thể quản lý)? quản lý cái gì (nội dung quản lý); quản lý như thế nào? (phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (công cụ quản lý); Quản lý để làm gì? (mục tiêu quản lý). 8 c - Đều nhấn mạnh các điểm sau: + Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tính hướng đích.
+ Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ không đồng cấp và có tính bắt buộc. Chủ thể quản lý là cá nhân hay một nhóm, một tổ chức. Đối tượng quản lý là con người hay một nhóm, một tổ chức. + Quản lý là hoạt động thực tiễn nhằm đạt đến mục tiêu công việc qua sự phối hợp giữa con người, bộ phận trong tổ chức.
+ Hiệu quả công tác quản lý thuộc vào các yếu tố: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục đích công tác quản lý phụ thuộc vào tác động từ chủ thể đến khách thể quản lý nhờ công cụ và phương pháp quản lý. Mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý có thể do chủ thể áp đặt, do yêu cầu khách quan của xã hội hay do sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tác động tương hỗ với nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý. Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu các vấn đề lí luận trên, luận văn xác định và sử dụng khái niệm: Quản lý quá trình tác động(lập kế hoạch tổ chức, điều khiển, kiểm tra) có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra. Chức năng quản lý Chức năng quản lý là tập hợp những nhiệm vụ quản lý khác nhau,mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá trình chuyên môn hóa hoạt động quản lý.
Nghiên cứu về chức năng quản lý, tác giả người Mỹ Taylor xác định quản lý có 5 chức năng đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy (ra lệnh), phối hợp, kiểm tra. Các nhà khoa học Nga xác định 6 chức năng quản lý. Theo tài liệu UNESCO thì có 5 chức năng: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, phối hợp và 9 c kiểm tra. Ở Việt Nam, một số tác giả đưa ra 4 chức năng quản lý: Kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển (lãnh đạo, chỉ huy) kiểm tra.
Khát quát lại, có thể thấy, quản lý gồm 5 chức năng cơ bản sau: * Chức năng hoạch định (lập kế hoạch hay kế hoạch hóa) Hoạch định là chức năng hạt nhân quan trong nhất của quá trình quản lý. Đây là quá trình xác định những mục tiêu, nhiệm vụ và các phương pháp tốt nhất để thực hiện các mục tiệu, nhiệm vụ đó. Hoạch định là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất trong hệ thống chức năng quản lý và nó là cơ sở của các chức năng còn lại. Nội dung cơ bản nhất của chức năng hoạch định là hoạch định mục tiêu, chương trình hành động và bước đi cơ bản của tổ chức trong thời gian cụ thể.
Như vậy, hoạch định là quyết định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, những ai làm và làm vào thời gian nào? * Chức năng tổ chức Là giai đoạn thực hiện kế hoạch, sắp xếp và bố trí một cách khoa học, phù hợp với những nguồn lực riêng rẽ (nhân lực,vật lực, tài lực và thời lực) của hệ thống sao cho chúng liên kết với nhau trong một cơ cấu chặt chẽ, hợp lý tạo thành một hệ thống thống nhất như một cơ thể sống. Đây chính là sự liên kết những cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện các mực tiêu của hệ thống trên cơ sở nguyên tắc quản lý. Lê nin nói: “Tổ chức là nhân tố sinh ra toàn vẹn, biến một tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể thống nhất, người ta gọi là hiệu ứng tổ chức” [25]. * Chức năng chỉ đạo (điều khiển) Chỉ đạo là quá trình chủ thể quả lý sử dụng quyền lực quản lý của mình để tác động hành vi của các cá nhân, bộ phận trong hệ thống (đối tượng quản lý) một cách có chủ đích để họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu đạt được các mực tiêu của tổ chức.
Nội dung cơ bản của chức năng chỉ đạo là chủ thể quản lý phải triển khai, thực hiện nhiệm vụ, ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó. 10 c * Chức năng kiểm tra Kiểm tra là căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã định để xem xét, đo lường và đánh giá việc thực hiện nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra các nguyên nhân và biện pháp khắc phục.