Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực quản trị hoạt động dạy học và giáo dục cho hiệu trưởng trường THPT đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực quản trị hoạt động dạy học và giáo dục cho hiệu trưởng trường THPT đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực quản trị hoạt động dạy học và giáo dục cho hiệu trưởng trường THPT đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC CHO HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG THPT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG NĂM 2018 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Thế kỷ XVIII, một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến các công trình theo xu hướng phát triển năng lực của người CBQL như Henri Faylor với công trình “Tổng quát về quản lý-hay Thuyết quản trị” [19]. Ông đã nêu những chức năng và quy tắc làm việc người quản lý. Tác giả cho rằng người quản lý cần hội tụ cả phẩm chất và năng lực, kết hợp nhuần nhuyễn với các chức năng, quy tắc và nguyên tắc quản lý thì việc thực hiện được các mục tiêu quản lý, từ đó dẫn đến thực hiện thành công mục tiêu của tổ chức.
Ông chỉ ra rằng chỉ có giáo dục mới có thể hình thành nên cấu trúc tổng thể ấy một cách có hệ thống để người CBQL vận hành hoàn hảo trong thực tiễn làm việc. Bước sang thế kỷ XX, nghiên cứu về năng lực quản lý ngày càng phong phú và mở ra nhiều lĩnh vực. Peter Drucker là người đại diện của trường phái quản lý kinh nghiệm chủ yếu của phương Tây. Trong tác phẩm “Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI” ông đưa ra vấn đề có liên quan đến mục tiêu và nhiệm vụ của người quản lý đồng thời quyết định những điều cần làm để đạt được mục tiêu đó, truyền đạt đến thành viên có liên quan; tiến hành công tác tổ chức, phân loại, xây dựng cơ cấu tổ chức tương ứng, tuyển chọn nhân viên, khích lệ cán bộ, công nhân viên, liên kết công việc và mọi người lại cùng nhau; phân tích kết quả công việc của đơn vị theo mục tiêu vạch ra; làm cho các thành viên đều trưởng thành.
Công trình nghiên cứu của ông được xếp là 155 tinh hoa quản lý thế giới ở thế kỷ XX. (dẫn theo [14]) 8 Thế kỷ XXI, đứng trước sự bùng nổ của tri thức, khoa học và công nghệ. Giáo dục và Đào tạo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Việc “học tập suốt đời” (lifelong learning) ở nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới không còn tồn tại chỉ như một khái niệm hay một nguyên tắc đơn thuần trong học tập mà nó đã trở thành một trong những chìa khóa quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Xây dựng mô hình xã hội học tập có nghĩa là xây dựng một nền giáo dục của một xã hội học tập suốt đời, toàn diện và tích hợp, một xã hội mà trong đó tất cả những yêu cầu học hành của mọi người ở mọi nơi, mọi lúc đều được đáp ứng. Mô hình xã hội học tập mới ra đời nhưng đã tỏ ra là một mô hình hữu hiệu đối với tất cả các quốc gia không phân biệt giàu - nghèo, phát triển hay đang phát triển. Xây dựng một xã hội học tập suốt đời dựa trên cơ sở bốn yêu cầu cơ bản hay còn gọi là bốn trụ cột mà trong báo cáo trình UNESCO của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đề cập đến đó là: Học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để cùng chung sống với nhau (Learn to know; Learn to do; Learn to be; Learn to live together).Coombs với tác phẩm nổi tiếng “Khủng hoảng giáo dục trên phạm vi toàn thế giới” đã đề cập đến việc giáo dục trong nhà trường không đủ sức đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người [30]. Trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, kiến thức học trong nhà trường là quá ít ỏi, chóng lạc hậu.
Đến thập kỷ 70, Edgar Faure, năm 1972 đã cho xuất bản cuốn sách “Học tập để tồn tại” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục người lớn và đặt trong khuôn khổ giáo dục suốt đời. Bertrand Schwatz, một chuyên gia giáo dục người Pháp đã chỉ ra: Các chương trình giáo dục và đào tạo đã thay đổi và phát triển không ngừng, người ta không thể đào tạo nên một con người chỉ bằng một chương trình cố định. Con người quên đi rất mau những gì đã học, nếu người ta không được dùng nó trong thực tiễn, kiến thức khi đó sẽ phai mờ dần và trở thành kiến thức chết. Từ sau những năm 50, khoa học kỹ thuật 9 đã bước vào thời kỳ phát triển như vũ bão, kéo theo sự phát triển to lớn về công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế, về văn hóa, giáo dục.
Đặc biệt vào những năm cuối của thế kỷ XX, sự biến đổi to lớn của bộ mặt thế giới đến mức có người đã gọi nửa sau của thế kỷ XX là “thế kỷ XX thứ hai”. Kéo theo nó là những thông tin khoa học kỹ thuật cứ 10 năm lại tăng lên gấp đôi, trình độ người tốt nghiệp đại học chỉ sau 7-10 năm đã có nhu cầu bức thiết được đào tạo lại hoặc bồi dưỡng để đạt chuẩn mới, chuẩn cao hơn để đóng góp, thúc đẩy xã hội phát triển nhanh hơn. Như vậy, nhu cầu và nguyện vọng được học tập, được giáo dục là của tất cả mọi người. Bước sang thế kỷ XXI, nhu cầu học suốt đời càng cấp thiết và cấp bách, mọi người cần học để biết, để sống cùng nhau và học để tồn tại như báo cáo của ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của Jaques Delors “Học tập - một kho báu tiềm ẩn”, 1997.
Đó cũng chính là ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người trong xã hội. Một trong những hình thức học tập suốt đời chính là bồi dưỡng nguồn nhân lực. Trong nền giáo dục mỗi quốc gia, đội ngũ hiệu trưởng là những nhân vật quan trọng nhất trong nhà trường, phải được liên tục bồi dưỡng để đáp ứng được với yêu cầu nhà trường hiện tại, đồng thời phải có khả năng thích ứng với những đổi mới của hệ thống giáo dục suốt 40 năm công tác của mỗi người. Đội ngũ hiệu trưởng chính là lực lượng cốt cán biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Xu thế đổi mới giáo dục để chuẩn bị con người cho thế kỷ XXI đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực của đội ngũ hiệu trưởng. Chính vì vậy, những mối quan tâm của các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục cùng những phương thức tiến hành tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ hiệu trưởng đang trở thành những vấn đề lớn, được đặc biệt chú trọng trong các hệ thống giáo dục tại các nước trên thế giới. Ở một số nước, các viện đào tạo nhà quản lý giáo dục được thành lập nhằm mục đích nghiên cứu phát triển chương trình cùng với chỉ dẫn trực tiếp 10 các hoạt động cung cấp đội ngũ lãnh đạo của các trường. Các phương pháp xây dựng tiêu chuẩn, xác định những yêu cầu về trình độ và đánh giá những ảnh hưởng của người quản lý trường học đang được xem xét, cân nhắc và rà soát.
Dưới nhiều góc độ khác nhau, rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các vấn đề như: - Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng hiệu trưởng mà chủ chốt là phát triển chương trình bồi dưỡng để đáp ứng với sự phát triển của khoa học - công nghệ trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. - Chỉ đạo xây dựng, phát triển chương trình bồi dưỡng, cung cấp cho hiệu trưởng những kiến thức, kĩ năng cần thiết để lãnh đạo nhà trường trong bối cảnh nhiều thay đổi gắn với điều kiện cụ thể của đất nước. Trong nghiên cứu của trường Đại học cho lãnh đạo và dịch vụ cho trẻ em của Anh đăng trên “School Learship Today” [28] chỉ rõ những ưu tiên trong việc quản lý bồi dưỡng hiệu trưởng trường học ở Anh là cần tăng cường kỹ năng xây dựng tổ chức học tập, lãnh đạo việc dạy học và quản lý thay đổi. Mỗi quốc gia đều có hình thức khác nhau trong việc quản lý bồi dưỡng cho hiệu trưởng nhưng hầu hết đều tập trung vào tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý như: ở Thụy Sĩ chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng được xây dựng chú trọng vào kỹ năng: lãnh đạo, giáo dục, phát triển trường học, tổ chức quản lý; Tác giả Katz R.L trong cuốn “kỹ năng của một người quản trị giỏi” đã phân tích các năng lực, kỹ năng của nhà quản lý cần có.
Tác giả đã chỉ ra một cách cụ thể về việc nhà quản lý cần làm là gì? Những yêu cầu đối với nhà quản lý ra sao? Các kỹ năng, năng lực hiệu trưởng cần có để nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường [41]. Nghiên cứu của Unesco (2004) với công trình “ICTs in Teacher Training”. Tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò của công nghệ thông tin trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho CBQL nói chung và hiệu trưởng nói riêng [42]. 11 Tác giả Harry Kwa (2004) với nghiên cứu “Information Technology Training Program for Student ang Teachers” đã nhấn mạnh đến vai trò của GV, đặc biệt là xuất hiện công nghệ dạy học mới dẫn đến đòi hỏi mới của đội ngũ GV trong phương pháp dạy học.
Việc đạo tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới cho GV và CBQL nhà trường trở nên đa dạng, phong phú; kèm theo là chính sách giảm giờ trên lớp, dạy theo cách gợi mở trí tò mò, sáng tạo của HS [40]. Trong khuôn khổ luận văn và phạm vi tìm hiểu của tác giả chưa thể đề cập đến được hết các khía cạnh nghiên cứu về vấn đề đào tạo bồi dưỡng hiệu trưởng trường học ở mọi quốc gia nhưng một số phân tích trên cho thấy tầm quan trọng của việc bồi dưỡng cho đội ngũ hiệu trưởng trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc quản lý hoạt động bồi dưỡng hiệu trưởng trường THPT trong giai đoạn đổi mới giáo dục.