Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG THCS THEO YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu trên thế giới Đến thế kỉ XX trên thế giới phát triển những thành tựu chưa từng có về khoa học quản lý. Tại thời điểm này, mô hình nghiên cứu quản lý trên cơ sở xem xét tổng thể, với lý thuyết sơ đồ 7S: Structure(cơ cấu), Strategy (chiến lược), Skills (các kĩ năng), Style (cách thức ), System ( hệ thống), Shared Value (giá trị) và đặc biệt là Staff (đội ngũ) đã xuất hiện.
Khi phân tích về đội ngũ, người đọc thấy được giá trị về chất lượng đội ngũ quản lý trong việc đạt tới mục tiêu của tổ chức. Từ cuối thể kỷ XX đến đến những năm 20 của thế kỉ XXI nay, trong thời kỳ xã hội thông tin 4.0, đã có các công trình nghiên cứu về quản lý trong môi trường luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống, quản lý tình huống. Tiêu biểu nhất là công trình nổi tiếng của ba tác giả Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich có tiêu đề “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” - NXB Khoa học và kĩ thuật, Hà nội – 1994. [22] Công trình này đã đề cập nhiều đến chất lượng người lãnh đạo, quản lý.
Từ thập niên 80 của thế kỷ trước, nhà khoa học xã hội người Mỹ Leonard Nadle đã xây dựng sơ đồ QL nguồn nhân lực, trong đó tác giả xem xét bồi dưỡng (đào tạo) “là một trong những hoạt động quan trọng của tổ chức nhằm phát triển nguồn lực của tổ chức” [25]. Tác giả quan niệm, khi khoa học công nghệ phát triển, những sản phẩm mới cập nhật liên lục dẫn tới người lao động có xu hướng thiếu hụt kiến thức, kĩ năng, thái độ. Vì vậy, đào tạo hướng tới bù đắp những thiếu hụt đó cho người lao động để tổ chức đạt được năng suất cao hơn. Trong kỷ nguyên mới, chất lượng nguồn nhân lực trở thành điều kiện tiên quyết để KT-XH phát triển.
Do đó, phát triển đội ngũ với tư cách là nguồn nhân lực chất lượng cao của toàn xã hội, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các quốc gia. Yêu cầu đặt ra cho những nhà giáo dục phải có một khuôn mẫu mới, với mức độ chuyên môn cao hơn và liên tục trau dồi tài năng để đương đầu với thách thức mới. Nhận thức rõ vai trò của đội ngũ trong tổ chức, việc bồi dưỡng là con đường cơ bản (NCCLĐN). Với quan niệm bồi dưỡng thực chất là tổ chức đào tạo “bổ sung, cập nhật kiến thức cho người được bồi dưỡng” và coi như một hình thức đào tạo lại; hầu hết các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên đều dựa trên lý luận về đào tạo trong giáo dục học.
Một số công trình điển hình có thể vận dụng vào đào tạo và bồi dưỡng giáo viên như: Ilina. với công trình “Giáo dục học” (gồm 3 tập) của Ilina. với tác phẩm “Giáo dục học” (gồm 2 tập) của Savin N.V, năm 1983 [26]; “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác: “Bộ ba Người học - Người dạy - Môi trường” của Jean-Marc Denommé và Madeleine Roy, năm 2000 [24] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu tại Việt Nam Khi nói đến vấn đề về công tác quản lý, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [15,486].
Kế thừa, bổ sung, phát triển, các tác giả: Phạm Minh Hạc, Trần Kiểm. đã nghiên cứu, chọn lựa các nội dung có giá trị của các tác phẩm quản lý của nước ngoài để bổ sung, phát triển trong “công trình nghiên cứu về sự phát triển của công tác quản lý. Xét ở lĩnh vực nghiên cứu “lý luận về quản lý giáo dục”, trên cơ sở “thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận QLGD và quản lý trường học để nghiên cứu phát triển công tác quản lý trường học, như: “Phương pháp luận khoa học giáo dục”[10] (Phạm Minh Hạc); “Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”[14] (Trần Kiểm). Một số cuốn sách như: Trần Kim Dung(2015) “Giáo trình quản trị nhân lực”, NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh [7]; của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Quân - Nguyễn Văn Điềm, do Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân phát hành năm 2012; Bùi Văn Danh – Nguyễn Văn Dung “Quản trị nguồn nhân lực”, là những tài liệu đã trình bày các tri thức về con người và “phát triển nguồn nhân lực” từ khâu xây dựng quy hoạch đội ngũ, lựa chọn và tuyển dụng, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm, thuyên chuyển, biệt phái, giải quyết các chính sách cán bộ đặc biệt là đào tạo và bồi dưỡng.
Công tác bồi dưỡng, PTĐN trong các nhà trường nói chung được tác giả Nguyễn Huy Hoàng quan tâm với luận án tiến sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trung tâm giáo dục thường xuyên các tỉnh vùng Tây Bắc theo hướng chuẩn hóa”, bảo vệ năm 2011 tại Viện Khoa học giáo dục Việt Nam [12]. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý: James Stiner và Stepphen Robbins quan niệm: “quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mực tiêu đã đề ra”[dẫn theo 19]. Theo tác giả Trần Kiểm: “quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức”.
“Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác”.[7] Hoạt động quản lý bao gồm 3 thành tố cơ bản đó là: chủ thể của hoạt động quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu của hoạt động quản lý. Mục tiêu là đích cuối cùng hoạt động quản lý phải hướng tới khi chủ thể quản lý đưa ra những tác động tới khách thể quản lý. Quản lý là hoạt động được hoạch định và tiến hành qua các bước như lập kế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra, điều chỉnh hướng tới đạt mục tiêu và phù hợp với thực tiễn. “Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động.
Về cơ bản có thể coi: quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [17]. Có thể khái quát rút ra một khái niệm chung về quản lý như sau: “quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mực tiêu đề ra.” Nói cách khác,"quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [18]. Bồi dưỡng Theo Từ điển tiếng Việt, bồi dưỡng “là làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm. Tức là làm phát triển trình độ chuyên môn nghề nghiệp.
Quá trình bồi dưỡng diễn ra khi các cá nhân hoặc tổ chức có sự thiếu hụt về trình độ so với yêu cầu hoặc có nhu cầu nâng cao kỹ năng chuyên môn, kiến thức của bản thân để đáp ứng nhu cầu trong các lĩnh vực lao động nghề nghiệp khác nhau.”[21] Theo Trần Khánh Đức bồi dưỡng là “là quá trình cho phép con người tiếp thu kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện các công việc của các cá nhân”[8] Bồi dưỡng chính “là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng vận dụng kiến thức để bù đắp kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu so với nhu cầu phát triển của xã hội.” UNESCO định nghĩa: “Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp” [20]. Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: "Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kĩ năng nghề nghiệp theo chuyên đề. Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để củng cố mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kĩ năng, chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách có hiệu quả hơn và thường được xác định bằng một chứng chỉ."[9] Tác giả đã quan niệm bồi dưỡng là “cập nhật, bổ sung thêm kiến thức, hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế, giúp cho cá nhân lao động nghề nghiệp hiệu quả hơn”.
Từ những định nghĩa nêu trên, ta thấy, bồi dưỡng được xem như “một hoạt động đặc thù của con người”, nó có các đặc điểm sau đây: - Chủ thể BD là những người đã có trình độ chuyên môn nhất định. - Đối tượng BD là những người hoặc tổ chức có nhu cầu nâng cao kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức để đáp đòi hỏi yêu cầu nghề nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Mục đích BD nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hệ thống kiến thức, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ có sẵn, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm. Như vậy, bồi dưỡng là quá trình bổ sung, bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở nuôi dưỡng những cái đã có để mở mang chúng, làm cho chúng phát triển thêm, có giá trị làm tăng hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả lao động.