Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái lược lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở ngoài nước Giáo viên (GV) có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục ( GD ). Do đặc điểm nghề nghiệp, GV phải thường xuyên tự bồi dưỡng ( BD ) và được bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ nghiệp vụ, tay nghề, đạo đức và kiến thức toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Mỗi thời đại, mỗi quốc gia đều có chủ trương bồi dưỡng và tự bồi dưỡng cho người thầy theo cách riêng, đúc kết thành những tài liệu, những công trình lưu truyền qua nhiều thế hệ. Các thế hệ sau, sẽ tiếp thu và cải tiến phù hợp với thời đại của mình.GV là lực lượng quyết định chất lượng GD nên những chính sách cải cách GD ở nhiều nước trên thế giới rất quan tâm đến việc BD và phát triển đội ngũ GV. Ở Liên bang Nga, các nhà GD đã có nhiều nghiên cứu để hiện đại hóa nền GD. Với việc tập trung đề xuất nâng cao “Vị thế xã hội và trình độ nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác GD”.
Việc quản lý (QL) đào tạo và nâng cao trình độ của ĐNGV được quy định cụ thể trong Luật GD đại học và sau đại học. Như vậy, Liên bang Nga đã rất coi trọng công tác bồi dưỡng giáo viên (BDGV) trong hệ thống GD, thông qua việc QL các khóa BD cập nhật nâng cao trình độ cho GV. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa luôn coi trọng phát triển GD nên đặt ra vấn đề nâng cao chất lượng, khẳng định thương hiệu, các trường phải được bắt đầu từ việc đào tạo, QL hoạt động BD nâng cao chất lượng ĐNGV theo hướng “Xây dựng ĐNGV có đạo đức tư tưởng tốt và có khả năng chuyên môn, thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp GD xã hội chủ nghĩa ” [2]. Trong đó đặc biệt coi trọng việc BD đạo đức, tư tưởng, khả năng chuyên môn cho GV.
7 Ở Hàn Quốc, việc BDGV là bắt buộc. BDGV đương nhiệm nhằm trang bị cho GV lý luận và phương pháp luận về giáo dục để nâng cao khả năng và hiệu quả giảng dạy trong lớp học. Mỗi chương trình BD thường kéo dài 182 giờ. Nội dung BD thường chú ý đến những kiến thức mới, những phương pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới [18].
Ở Nhật Bản, có quy chế bắt buộc BD hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề. GV đương nhiệm được BD bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức đổi mới, đa dạng [17]. Singapore là một quốc đảo nhỏ bé song có nền kinh tế, xã hội phát triển năng động nhất khu vực Đông Nam Á. Nền giáo dục tiên tiến, hiệu quả bắt nguồn và được xây dựng trên nền tảng ĐNGV chất lượng cao.
Đào tạo ĐNGV có khả năng liên tục sáng tạo kiến thức chứ không chỉ hấp thu kiến thức. Xây dựng ĐNGV có khả năng kiến tạo môi trường học tập cho học sinh chứ không chỉ thực thi yêu cầu từ người khác. Xây dựng ĐNGV có khả năng kiến tạo nên các thế hệ học sinh phát triển cá tính riêng biệt chứ không chỉ là thành viên đơn thuần trong lớp, và xây dựng ĐNGV là những người dẫn đầu sự thay đổi trong giáo dục chứ không chỉ chạy theo sự đổi mới. Do vậy, mỗi giáo viên trở thành minh chứng đầy thuyết phục về sự thay đổi tích cực trong các hoạt động giáo dục [21].
Có thể thấy, nhiều nước trên thế giới luôn quan tâm đến hoạt động BDGV và có hệ thống BDGV từ trung ương đến địa phương. Hình thức BDGV tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, xây dựng quy trình phù hợp, từng bước nâng cao chất lượng ĐNGV. Các nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở trong nước Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng ĐNGV đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “ Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách 8 mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp, Đảng, chính quyền và chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới ”; “ Cán bộ và giáo viên phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc, tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại” [23].
Người cũng khẳng định rằng trong sự nghiệp giáo dục, nếu không quan tâm đến BDGV thì không thể đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển đất nước. Từ khi thực hiện đổi mới giáo dục 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng sự phát triển GD nhằm tạo động lực phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng GV có những chuyển biến tích cực nhằm dần dần chuẩn hóa đội ngũ này. Qua ba chu kì BD thường xuyên 1992-1996, 1997- 2000, 2003-2007 đã phần nào khẳng định được những kinh nghiệm bổ ích về hoạt động nâng cao năng lực sư phạm cho ĐNGV phổ thông nói chung và GV THCS nói riêng.
BDGV là công tác được Bộ GD&ĐT coi trọng và quan tâm chú ý trong nhiều năm qua. Công tác đào tạo, BD được thực hiện hết sức linh hoạt, đa dạng, phong phú. Đào tạo mới, đào tạo nâng chuẩn, trên chuẩn, bồi dưỡng thường xuyên (BDTX) theo chu kì, BD cập nhật kiến thức, BD thay sách,. Những công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng ĐNGV của các tác giả trong nước khá nhiều và có nhiều đầu tư nghiên cứu, tiêu biểu có thể kể đến là: Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới của Nguyễn Minh Đường [22].
Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng thường xuyên, tác giả Trần Bá Hoành [20]. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau của PGS. Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Thanh Sang [13]. Như vậy, tất cả các công trình trên hệ thống hóa khá đầy đủ về lí luận, 9 đó là cơ sở để bản thân tham khảo, vận dụng vào đề tài này.
Nhưng tại địa bàn thị xã Gia Nghĩa tỉnh Đắk Nông chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu, chi tiết về QL hoạt động BD giáo viên trung học cơ sở (THCS), vì vậy bản thân chọn đề tài này có ý nghĩa triển khai ứng dụng và tính mới về địa bàn nghiên cứu. Về ĐNGV được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau và đặc biệt được quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục. Để có công trình đánh giá tổng quan về thực trạng chất lượng đội ngũ nhà giáo ở địa phương và đề xuất giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng đội ngũ, áp dụng có hiệu quả vào thực tế giáo dục ở địa phương; nơi chúng tôi đang sinh sống và công tác. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Khái niệm quản lý và quản lý giáo dục 1. Khái niệm quản lý Từ khi xã hội loài người có tổ chức, có sự phân công, hợp tác lao động thì cũng từ đó xuất hiện hoạt động quản lý. Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt được hiệu quả lao động cao hơn. Vì vậy quản lý mang tính lịch sử, nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người.Có nhiều định nghĩa khác nhau về QL, tùy thuộc theo quan điểm tiếp cận khác nhau mà các tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau.
Theo Vũ Dũng, Phùng Đình Mẫn: “Quản lý là tác động có phương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý; quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao. Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật” [10]. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý, sau đây là một số quan điểm chính. Theo sự phân tích của C.Mác thì "Bất cứ nơi nào có lao động, nơi đó có quản lý" Trong tác phẩm: " Những vấn đề cốt yếu của quản lý" tác giả Harold Kontz viết "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp 10 những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm về thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất " [15, tr 112].
Theo tác giả Trần Kiểm: " Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất " [25, tr. Khái quát hơn các tác giả ở khoa Sư phạm - ĐHQGHN là Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm: " Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức " [9, tr. Như vậy, tất cả quan niệm trên, dù hiểu theo góc độ nào đi chăng nữa thì chúng ta có thể nhận thấy: QL là một dạng hoạt động có định hướng, được tiến hành theo chủ đích rõ ràng, có mục tiêu, đối tượng, chủ thể, phương pháp. QL là quá trình tác động có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Các chức năng của QL QL có 04 chức năng cơ bản có liên quan mật thiết với nhau bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Các tác giả Trần Kiểm và Nguyễn Lộc đã xác định khá rõ nội hàm của các chức năng QL như sau: Lập kế hoạch (kế hoạch hóa): Kế hoạch là tập hợp các hoạt động cần thiết để đạt được tập hợp các mục tiêu đã đề ra. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống QL và bị QL [26, tr.