CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp tại trường Trung học cơ sở Đề tài quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp tại trường THCS đã được thực hiện ở các nước trên thế giới từ nhiều năm nay và cũng đã rất được quan tâm trong thời gian gần đây. Tác giả tiếp cận và tìm hiểu một số công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp tại trường THCS như sau: 1.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Các tác giả Koontz, O’donnel, Weihrich (1998) trình bày hệ thống kiến thức về khoa học quản lý và các nguyên tắc thực hành quản lý với cách tiếp cận theo chức năng quản lý như lập kế hoạch, xây dựng tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo và kiểm tra đánh giá. Nội dung đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực được đặt trong hệ thống các nhiệm vụ cơ bản của quản lý nguồn nhân lực của tổ chức. Ba tác giả bao gồm Fiedeich Wiliam Taylor (1856 - 1915); Henri Fayol (1841-1925) và Max Weber (1864-1920) cùng chia sẻ quan điểm cho rằng quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển của xã hội bởi vì trong mọi lĩnh vực của xã hội thì quản lý luôn giữ vai trò trong việc điều hành và phát triển. Vì vậy trong lĩnh vực GD&ĐT, quản lý là yếu tố giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục.
Các tác giả cũng đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của quản lý, là yếu tố then chốt để thực hiện các chức năng quản lý, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục. Một số hướng nghiên cứu tiêu biểu của các nhà nghiên cứu về quản lý trong giáo dục ví như Hunsaker (2001) nghiên cứu kỹ năng quản lý trong xây dựng văn hóa tổ chức, quản lý sự thay đổi và quản lý xung đột trong tổ chức; Lawrence Holpp (2008) quan tâm đến phương pháp và cách thức quản lý nhằm xây dựng nhóm làm việc hiệu quả; Còn Strayer (2010) nghiên cứu về phát triển và duy trì khả năng làm việc của nhân viên. Nhìn chung, các tác giả nêu trên tập trung quan tâm khai thác và nghiên cứu 11 về tầm quan trọng của quản lý trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, đồng thời bàn luận về các khía cạnh khác nhau về nội dung và phương pháp của quản lý nguồn nhân lực. Theo nhà giáo dục học người Ucraina - V.
Xukhômlinxki (1981) việc bồi dưỡng đội ngũ GV là phải phát huy tính sáng tạo trong lao động của họ và xây dựng khả năng không ngừng hoàn thiện phẩm chất và tay nghề sư phạm của mỗi nhà giáo. Thêm vào đó, ông cho rằng phải lựa chọn GV từ nhiều nguồn khác nhau và sử dụng nhiều biện pháp đa dạng để bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt đạt một số tiêu chuẩn nhất định về cả năng lực chuyên môn lẫn phẩm chất đạo đức nhà giáo. Xukhômlinxki coi trọng việc tổ chức các hội thảo chuyên môn, qua đó GV có cơ hội được thông tin và trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp nhằm nâng cao trình độ để ngày càng hoàn thiện. Hai tác giả Gabršček và Roeders (2013) chỉ ra tầm quan trọng của việc lấy ý kiến phản hồi của GV về chương trình bồi dưỡng, hình thức và phương pháp bồi dưỡng và cho rằng cần phải tiến hành các đánh giá này một cách có hệ thống.
Hai tác giả trên cùng với Dutto (2014) đều cho rằng việc tìm ra các giải pháp bồi dưỡng, các sáng kiến mới và giải pháp mới giúp cho hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV đạt được kết quả cao nhất là nhiệm vụ của các nhà quản lý giáo dục. Các tác giả cũng đã chỉ ra trong quá trình bồi dưỡng rất cần thiết việc lấy ý kiến phản hồi từ đội ngũ tham gia quá trình bồi dưỡng, nhằm phân tích sự cần thiết, mức độ phù hợp về các nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng để làm căn cứ thay đổi trong kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV, phù hợp với những yêu cầu mới đã và đang đặt ra cho giáo dục. Tác giả Tyler (1949) cho rằng cấu trúc chương trình đào tạo gồm có 4 phần cơ bản: mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; phương pháp hay qui trình đào tạo; và cách đánh giá kết quả đào tạo (dẫn theo Trần Khánh Đức, 2014, tr. Vì vậy, chương trình đào tạo không chỉ phản ánh nội dung đào tạo mà còn được thiết kế nhằm thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, phương pháp, hình thức tổ chức và kiểm tra đánh giá các hoạt động nhằm đạt các mục tiêu đào tạo.
Bên cạnh đó Tyler còn nói đến việc quản lý xây dựng nội dung chương trình và kế hoạch đào tạo bao gồm các bước: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ 12 đạo thực hiện, kiểm tra và đánh giá. Tại một số quốc gia, việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ GV được Nhà nước đặc biệt quan tâm chú trọng từ rất lâu. Theo nghiên cứu của tác giả Trần Bá Hoành (2000), chính phủ Philippines chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch tổng thể về đào tạo bồi dưỡng GV từ rất sớm thông qua kế hoạch 10 năm (1998 - 2008), qua đó đề xuất thực hiện những giải pháp đáng chú ý như: thu hút HS khá giỏi vào ngành sư phạm, tạo việc làm cho GV mới ra trường và giảm thiểu tình trạng thất nghiệp đối với GV, thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng tại chức, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của người GV trong xã hội. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Mạc Thị Việt Hà (2008) đã chỉ ra rằng tại Hàn Quốc, GV được trang bị cơ sở lý luận và phương pháp luận về giáo dục, nâng cao khả năng và hiệu quả giảng dạy trên lớp.
Chương trình được thiết kế và phân loại phù hợp với mục đích bồi dưỡng cho từng đối tượng cụ thể vào thường kéo dài 182 giờ, bao gồm: Bồi dưỡng về xây dựng chương trình giảng dạy; Đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu; Bồi dưỡng chung; Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm… Nội dung bồi dưỡng thường chú ý đến kiến thức mới, phương pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới. Việc xây dựng và nghiên cứu chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông cũng được các quốc gia và các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng GV Hoa Kỳ đã xây dựng các chuẩn nghề nghiệp GV vào năm 2008 ( Janelle, Cox, 2014) bao gồm các tiêu chuẩn: Khối kiến thức chung và kiến thức sư phạm; Kiến thức, kỹ năng hướng dẫn, hỗ trợ HS học tập; Các kiến thức, kỹ năng khác nhằm phát triển nghề sư phạm. Tiêu chuẩn nghề nghiệp của GV được sử dụng rộng rãi trong việc kiểm định các tổ chức đào tạo GV, trong quản lý sử dụng GV và trong quá trình bồi dưỡng phát triển của bản thân GV.
Tại Australia, bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc gia dành cho GV (Australian Institute for Teaching and School Leadership, 2011) được hình thành bởi ba vấn đề trọng tâm: Kiến thức nghề nghiệp; Kỹ năng thực hành nghề nghiệp; Sự cam kết tham gia phát triển nghề nghiệp. Bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp này tập trung mô tả, xác định các thành phần cấu thành chất lượng giảng dạy ở từng giai đoạn nghề nghiệp; tìm hiểu những mong đợi của GV trong ba lĩnh vực trọng tâm; và trình bày các mục 13 tiêu và bối cảnh phát triển nghề nghiệp của GV và các yêu cầu học tập của HS. Thông qua đó, GV phải tự trang bị khả năng tích hợp, vận dụng sáng tạo các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp để tạo dựng môi trường giảng dạy và học tập hiệu quả. Nhìn chung, trên phạm vi thế giới, việc nghiên cứu và xây dựng việc bồi dưỡng đội ngũ GV và xây dựng các bộ chuẩn nghề nghiệp dành cho GV đã được nghiên cứu và triển khai từ rất sớm.
Thông qua các nghiên cứu đã đề cập và phân tích trên, chung quy lại thì các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cần thiết lập kế hoạch và quy trình bồi dưỡng đội ngũ GV: bắt đầu từ đánh giá nhu cầu, phân loại GV, xác định nội dung, phương pháp bồi dưỡng, lên kế hoạch, tổ chức và đánh giá kết quả bồi dưỡng. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chưa thể hiện rõ cách thức tương tác hiệu quả giữa nhà quản lý với tổ chức và đội ngũ GV thông qua việc thực hiện chức năng quản lý. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu trên vẫn có ý nghĩa quan trọng giúp xác định cơ sở lý luận của quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp tại trường THCS, từ đó định hướng cho những nghiên cứu trường hợp về hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề phát triển giáo dục nói chung và phát triển đội ngũ GV nói riêng luôn là sự quan tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo và các nhà nghiên cứu khoa học.
Vì vậy có rất nhiều nhà khoa học và quản lý giáo dục nghiên cứu đề cập đến hoạt động xây dựng phát triển và bồi dưỡng đội ngũ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục trong bối cảnh hiện nay. Một vài các văn bản và công trình nghiên cứu tiêu biểu cho đề tài này như: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam (2021) nêu rõ nhiệm vụ của ngành GD&ĐT trong những năm trước mắt “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực”. Đáng chú ý là, lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội Đảng, Đảng ta đồng thời đưa sứ mạng “phát triển con người” đi cùng với sứ mạng “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” của giáo dục và đào tạo. Việc nâng cao trình độ văn hóa chung và trình độ sư phạm cho đội ngũ GV nước nhà ngang tầm khu vực và thế giới đòi hỏi một kế hoạch dài hạn, cùng sự nỗ lực rất lớn của Đảng, Nhà nước, ngành GD&ĐT và cá nhân mỗi GV.
Đây là việc làm mang ý nghĩa chiến lược, nâng cao vị thế nền giáo dục nước nhà 14 sánh đôi với các quốc gia trong khu vực và thế giới.