Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dƣỡng giảng viên trẻ. Chương 2: Hiện trạng quản lý công tác bồi dƣỡng giảng viên trẻ ở Đại học Thái Nguyên. Chương 3: Những giải pháp quản lý công tác bồi dƣỡng giảng viên trẻ ở Đại học Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN TRẺ 1.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu Nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo ở đại học, vì vậy xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung và giảng viên nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của trường đại học. Giảng viên trẻ được coi là đội ngũ kế cận tương lai của các trường đại học. Họ là những người mới vào nghề với tràn đầy nhiệt huyết và tinh thần nghề nghiệp. Nếu hoạt động quản lý và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trẻ được thực hiện tốt thì sẽ tạo nên những nhân tố mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học hiện nay.
Giảng viên trẻ mới vào nghề ở các trường đại học đa số là nhà giáo năng động, tích cực, nhạy bén với tri thức và thành thao về công nghệ thông tin hơn lớp nhà giáo có thâm niên lâu năm tại trường. Tuy nhiên, giảng viên trẻ lại thiếu kinh nghiệm về nghề nghiệp, chưa thuần thục về phương pháp giảng dạy và hệ thống kỹ năng sư phạm. Vì vậy, bồi dưỡng để nâng cao năng lực cho giảng viên trẻ là nhiệm vụ hàng đầu mà các trường đại học đặt ra. Đây là một vấn đề còn mới và trong Đại học Thái Nguyên chưa ai nghiên cứu, do đó, tôi chọn nội dung bồi dưỡng giảng viên trẻ làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
Một số khái niệm 1. Khái niệm quản lý Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát. Nó dùng cho cả quá trình quản lý xã hội (xí nghiệp, trường học, đoàn thể), quản lý giới vô sinh (hầm mỏ, máy móc,v.v…) cũng như quản lý giới sinh vật (vật nuôi, cây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Riêng về quản lý xã hội, người ta lại chia ra ba lĩnh vực quản lý cơ bản tương ứng với ba loại hình hoạt động chủ yếu của con người: quản lý sản xuất, quản lý kinh tế, quản lý xã hội - chính trị và quản lý đời sống tinh thần.
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả chỉ bàn đến loại quản lý thứ ba, mà cũng chỉ hạn chế trong dạng quản lý giáo dục. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý. Dưới đây là một số quản niệm chủ yếu. Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô, 1977, quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động.
Một số khái niệm khác: - Quản lý là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định (Trường Cán bộ Quản lý giáo dục và Đào tạo: Nguyễn Ngọc Quang, nhà sư phạm, người góp phần đổi mới quản lý dạy học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1998). - Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó: quản lý được hiểu là việc đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới. - Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội (Theo Trần Kiểm: Giáo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 trình “Quản lý giáo dục và nhà trường” (Giáo trình dành cho học viên cao học), Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội, 1997). - Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trọng việc hoạt động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao (Theo Trần Kiểm: Giáo trình “Quản lý giáo dục và nhà trường” (Giáo trình dành cho học viên cao học), Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội, 1997).
- Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt được đến mục đích dự kiến (Theo Trần Kiểm: Giáo trình “Quản lý giáo dục và nhà trường” (Giáo trình dành cho học viên cao học), Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội, 1997). - Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động (Theo TS.Nguyễn Bá Sơn: Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000). - Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất.
Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học”. - Theo tác giả Bùi Minh Hiển: “Quản lý là hoạt động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý đạt mục tiêu đề ra”. - Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”. Từ những khái niệm quản lý nêu trên, tuy khác nhau, song chúng có những dấu hiệu chung chủ yếu về bản chất của hoạt động quản lý là: - Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, là sự tác động có hướng đích, có sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất, phù hợp với quy luật khách quan.
- Hoạt động quản lý gồm hai thành phần chủ yếu là: + Chủ thể quản lý (ai quản lý): Chỉ có thể là con người hoặc một tổ chức do con người cụ thể lập nên. + Đối tượng quản lý (quản lý ai, quản lý cái gì, quản lý công việc gì): Đó có thể là người, tổ chức, vật chất hay sự việc. - Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có tác động qua lại. Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý, còn đối tượng quản lý thì sản sinh ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý.
- Trong hoạt động quản lý, chủ thể quản lý phải có những tác động phù hợp và sắp xếp các tác động đó một cách hợp lý làm cho đối tượng quản lý thay đổi trạng thái (Từ lộn xộn thành trật tự theo ý trí và mục tiêu của nhà quản lý). * Chức năng quản lý Một tổ chức đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Vậy hoạt động quản lý là gì? Quản lý là một hoạt động đặc biệt, có tính sáng tạo, có tính nghệ thuật. Hoạt động quản lý phát triển không ngừng từ thấp đến cao, gắn liền với quá trình phát triển, đó là sự phân công chuyên môn hoá lao động quản lý.
Sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 phân công, chuyên môn hoá lao động quản lý là cơ sở hình thành các chức năng quản lý. Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu. Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu xác định. Quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, trong các chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán.
Chức năng quản lý có chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhưng về cơ bản các tác giả đều thống nhất 4 chức năng cơ bản : Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. - Chức năng kế hoạch hoá: Bản chất của khái niệm kế hoạch hoá là quá trình xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức, điều kiện cơ sở vật chất để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Trong tất cả các chức năng quản lý, chức năng kế hoạch hoá là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác.
Đây được coi là chức năng chỉ lối, dẫn đường cho các chức năng chỉ đạo, kiểm tra. Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, xác định chức năng kế hoạch hoá có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại, vận hành và phát triển của nhà trường. - Chức năng tổ chức: Theo hai tác giả; Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả”. Như vậy, thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất.
Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng, cho những động lực khác, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và làm giảm sút hiệu quả quản lý.