Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010 -2016 Chương 4 : Một số giải pháp và kiến nghị đối với quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay có nhiều tài liệu nghiên cứu về hiện trạng khai thác thủy sản ở Việt Nam và tỉnh Thái Bình, điển hình là nghiên cứu “Tổng quan nguồn lợi thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Chinh (2008). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Chinh chỉ ra, sản lượng thủy sản năm 1997 tăng không mạnh nguyên nhân do đánh bắt các đối tượng gần bờ, có giá trị thấp ngày càng nhiều, khả năng tận dụng sản phẩm khai thác trong các mẻ lưới ngày càng tăng.
Bên cạnh đó mặc dù tỷ lệ số lượng tàu khai thác xa bờ tăng nhưng khả năng đánh bắt với sản lượng lớn là không cao. Có nghĩa là, mỗi chuyến đi sản lượng khai thác có chiều hướng tăng, nhưng do nâng cấp công suất tàu thuyền và ngày nay việc chọn lọc ngày càng giảm với mỗi mẻ lưới được đánh lên họ khai thác triệt để các đối tượng đã được đánh bắt lên thuyền. Ngoài những nghiên cứu mang tính chất tổng quan, có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả khai thác nguồn lợi thủy sản. Theo luận văn Thạc sĩ “Giải pháp phát triển khai thác hải sản xa bờ của thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Ngọc Oai (2011).
Nghiên cứu này kết luận rằng số lượng và công suất tàu cá hàng năm tại Đà Nẵng đều tăng. Tuy nhiên số lượng tàu cá có công suất nhỏ (<20CV) và hoạt động ven bờ vẫn chiếm tỷ lệ cao (56,4%). Cường lực khai thác tăng nhưng hiệu quả khai thác giảm mạnh so với năm 2007. Trong khi đó, luận văn Thạc sĩ “Quản lý hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững” của tác giả Trần Quang Thái (2015) là nghiên cứu mang lại hiệu quả cao.
Nghiên cứu này kết luận rằng tỉnh Quảng Ninh về số tàu khai thác vùng ven bờ và vùng lộng nhiều, trình độ công nghệ khai thác chậm cải tiến, bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu, dịch vụ hậu cần nghề cá còn thiếu, chưa đồng bộ, nguồn ngân sách hỗ trợ đầu tư trực tiếp thấp. Hơn nữa, lao động nghề khai thác thủy sản xa bờ thiếu, chưa qua đào tạo còn nhiều và còn tồn tại nhiều hình thức khai thác hủy diệt. Bên cạnh đó, công tác bảo vệ nguồn lợi và môi trường sinh thái 4 biển hiệu quả chưa cao và chính sách nhà nước nhiều bất cập, khó khăn áp dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu “Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản” của tác giả Tô Văn Phương cùng các cộng sự (2014).
Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra để khai thác hợp lý NLTS có thể đưa ra hai nhóm hệ thống giải pháp là nhóm giải pháp ngăn cản động cơ kinh tế và nhóm giải pháp điều chỉnh động cơ kinh tế. Các giải pháp tiếp cận vấn đề đảm bảo khai thác nguồn lợi thủy sản phải tính đến cả trong ngành và ngoài ngành thủy sản. Đòi hỏi sự hợp tác liên bộ chặt chẽ và giữa cơ quan trung ương và địa phương để đảm bảo hợp tác và phối hợp trong lập kế hoạch và thực hiện mục tiêu quản lý nghề cá hướng tới phát triển bền vững Trong tương lai, việc duy trì sản lượng khai thác bền vững ngoài đảm bảo NLTS được bền vững thì cần cắt giảm cường lực khai thác. Qua nghiên cứu của tác giả Thái Ngọc Chiến (2009) chỉ ra nguồn lợi hải sản ven bờ đã bị khai thác quá mức và cường lực khai thác cần giảm khoảng hơn 30% để duy trì sản lượng khai thác bền vững tối đa.
Tuy nhiên, đối với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Kháng (2011) mức độ cắt giảm cường lực khai thác lại khác. Nghiên cứu chỉ ra rằng số lượng tàu thuyền khai thác ở khu vực miền Trung cần cắt giảm đến 38% để duy trì sản lượng khai thác bền vững tối đa. Chỉ số đánh giá tính bền vững trong nghề cá có thể nhắc đến đó chính là cường lực khai thác và sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY). Trong đó, MSY là điểm tham chiếu sự phát triển bền vững về sản lượng khai thác, trở thành tiêu chuẩn quốc tế (FAO, 1999).
Để xác định ngưỡng cường lực khai thác tối đa chúng ta có thể sử dụng nhiều phương pháp tính toán khác nhau như công thức Gulland (1983), DEA (1978), Schaefer (1954), Fox (1970). Nhưng tùy thuộc vào điều kiện, mục đích nghiên cứu để lựa chọn công thức sử dụng cho phù hợp. Công thức Gulland (1983) là công thức sử dụng các tiếp cận sinh học quần thể làm cơ sở để xây dựng dựa trên sản lượng thặng dư của quần thể. Tuy nhiên, công thức Gulland (1983) thường chỉ dùng để tính sản lượng khai thác tối đa cho những quần thể chưa khai thác, còn với Schaefer (1954) và Fox (1970) được dùng để tính cho những quần thể đang bị khai thác.
Không những vậy, hai mô hình này cũng sử dụng trong đánh giá nghề cá đa loài 5 bằng việc xác định sản lượng khai thác tối đa cho từng loại trong cùng phạm vi rồi chọn lấy giá trị an toàn. Nguồn số liệu sử dụng trong mô hình này chủ yếu là số liệu phụ thuộc nghề cá như năng suất khai thác, sản lượng khai thác, cường lực khai thác…Những số liệu này dễ dàng thu thập được từ các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hoặc từ điều tra thực tế. Với những số liệu nêu trên và trong điều kiện hoàn cảnh nước ta hiện nay, việc áp dụng mô hình toán của Schaefer (1954) và Fox (1970) tính toán MSY và fMSY trong đề tài là hoàn toàn hợp lý về mặt khoa học và thực tiễn. Tuy nhiên, mô hình này dựa trên những các tiếp cận sinh học quần thể và nghề cá nước ta là đa nghề nên nhìn chung bài toán được đặt ra là khá phức tạp.
Để có thể tính toán sản lượng khai thác bền vững tối đa và cường lực khai thác tối ưu làm cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh cường lực khai thác của các đội tàu, ngoài việc sử dụng các mô hình này cho từng loài được lựa chọn, việc chuẩn hóa cường lực khai thác là vô cùng cần thiết. Nhìn chung, các công trình đã nghiên cứu ở các góc độ, địa bàn khác nhau với những phương pháp khác nhau, đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững về thủy sản nói chung và lĩnh vực khai thác thủy sản nói riêng để từ đó đề ra các giải pháp phù hợp, tối ưu. Các kết quả nghiên cứu trên có một số nội dung có giá trị, phù hợp với đặc điểm, thực trạng khai thác thủy sản hiện nay mà tỉnh Thái Bình có thể vận dụng. Và theo tìm hiểu thực tiễn của tác giả đến nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về quản lý bền vững trong hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Đề tài mà tác giả lựa chọn nghiên cứu không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố trước đó. Trong luận văn này, ngoài việc kế thừa những kết luận từ các công trình đã nghiên cứu. Bản thân tôi trong quá trình tìm hiểu thực tế và nghiên cứu về những thực trạng, nguyên nhân gây ảnh hưởng đến lĩnh vực khai thác thủy sản của tỉnh Thái Bình và các chính sách tại địa phương. Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm quản lý năng lực khai thác thủy sản một cách hiệu quả, không để tình trạng tàu thuyền nằm bờ quá nhiều, hạn chế số lượng tàu thuyền khai thai thác ven bờ và tăng số lượng tàu thuyền khai thác xa bờ.
Bên cạnh đó, việc khai thác thủy sản cần đảm bảo không hủy diệt nguồn lợi, khai thác thân thiện với môi trường. Ngoài ra, việc 6 khai thác thủy sản trên biển sau khi về đất liền cần có công nghệ bảo quản sau thu hoạch hiệu quả. Cuối cùng, cần phải nâng cao trình độ và thu thập của lao động tại địa phương cũng như hạn chế giảm thiểu rủi ro, tai nạn trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hƣớng bền vững 1.
Các khái niệm về quản lý hoạt động khai thác thủy sản - Phát triển bền vững Sau Hội nghị Thượng đỉnh của Trái đất, họp tại Reo de Janeiro, Brazil từ ngày 03/06 -14/06/1992: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành đặc trưng cơ bản của thời đại và là quốc sách của mọi quốc gia: Phát triển đất nước phải theo hướng phát triển bền vững,nghĩa là môi trường và phát triển kinh tế xã hội phải được gắn chặt với nhau. Theo định nghĩa của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển bền vững được trình bày trong tài liệu “Tương lai chung của chúng ta” (1987) thì: “Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi mà trong nó sự khai thác tài nguyên, phương hướng đầu tư, định hướng phát triển kỹ thuật và sự thay đổi về luật pháp đều làm hài hoà và gia tăng khả năng đáp ứng nhu cầu và khát vọng của nhân loại trong cả hiện tại và tương lai”. Hay: “Phát triển bền vững đòi hỏi làm ra nhiều hơn, tiêu phí ít hơn: tài nguyên ít hơn, tiêu thụ năng lượng ít hơn, phát sinh chất thải ít hơn. Điều đó đòi hỏi sự hình thành quá trình sản xuất và thiết bị mới, mở rộng sử dụng vật liệu và khả năng tái chế, phát triển các sản phẩm có khả năng tái sinh.
Phát triển bền vững đòi hỏi tập trung vào phát triển công nghệ sạch để khống chế ô nhiễm đầu nguồn hơn là xử lý cuối đường ống”. Phát triển kinh tế phải dựa trên nền tảng xã hội tiến bộ và một môi trường lành mạnh (cả tự nhiên và xã hội). Sự phát triển kinh tế phải quay lại phục vụ cho con người, tạo cơ hội cho con người phát triển, sản xuất xã hội có khả năng bù đắp những sản phẩm không tái tạo và tạo ra nhiều sản phẩm thay thế đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người.