Chương 1: Khái quát chung về liên kết thông tin KH&CN trong quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế Chương 2: Thực trạng liên kết thông tin KH&CN trong quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế theo hệ thống đăng ký Madrid Chương 3: Xây dựng mối liên kết thông tin KH&CN đối với nhãn hiệu quốc tế vào Việt Nam và Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả liên kết và khai thác liên kết thông KH&CN 11 z CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LIÊN KẾT THÔNG TIN KH&CN TRONG QUẢN LÝ VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU QUỐC TẾ 1. Tổng quan về quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế 1. Khái niệm nhãn hiệu và nhãn hiệu quốc tế Nhãn hiệu là một thuật ngữ được dùng rất phổ biến trong việc đăng ký về hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta không phải bất kỳ người nào cũng hiểu rõ về thuật ngữ này.
Để quảng bá tới mọi người, nhãn hiệu được có những khái niệm sau: Khái niệm Nhãn hiệu là: dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Như vậy, bất kỳ dấu hiệu nào đáp ứng đầy đủ điều kiện phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác đều được coi là nhãn hiệu. Tính mở và tính khái quát của quy định cho phép các dấu hiệu mới có thể được cấp văn bằng bảo hộ. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển không ngừng của KH&CN, với sự xuất hiện ngày càng phong phú của các dạng dấu hiệu.
Khái niệm Nhãn hiệu quốc tế là dựa trên dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân hay doanh nghiệp khác nhau thông qua một nhãn hiệu đã được đăng ký ở nước sở tại (nước sở tại là nước đầu tiên mà đơn đăng ký nhãn hiệu đăng ký và đơn đó được gọi là đơn cơ sở) và đăng ký ra quốc tế (nước ngoài) thông qua hệ thống đăng ký quốc tế (hệ thống Madrid). Việc thực hiện đăng ký nhãn hiệu quốc tế được thực hiện qua hệ thống Madrid và hoạt động dưới hai hiệp ước là Thỏa ước và Nghị định thư. Hệ thống Madrid là một hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu do Văn phòng Quốc tế thuộc Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) có cơ sở đặt tại Geneva - Thụy Sỹ - quản lý và hoạt động dưới hai hiệp ước: Thỏa ước Madrid và Nghị định thư. Thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu có hiệu lực từ năm 1891.
Nghị định thư Madrid liên quan đến thỏa ước Marid được thông qua năm 1989 có hiệu lực từ 01-12-1995 và hoạt động từ 01-04-1996. 12 z Nhãn hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cở sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Như phần khái niệm đã nêu: nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc là sự kết hợp cả yếu tố từ ngữ và hình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc. Ví dụ: trong ngành sản xuất, xuất khẩu ô tô có các nhãn hiệu “H” – Honda - Nhật bản, “H” – Hyudai- Hàn Quốc, “BMW”- Đức, “Toyota”-Nhật bản, dịch vụ lưu chú nhà hàng, khách sạn có các nhãn hiệu Quê Hương, Kinh Đô … Nhãn hiệu mang lại tác dụng to lớn đối với cả doanh nghiệp và khách hàng của doanh nghiệp.
Sự cần thiết của nhãn hiệu thể hiện rõ trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu quốc tế Hiện nay, Luật SHTT của Việt Nam không có điều khoản cụ thể nào về khái niệm bảo hộ nhãn hiệu quốc tế mà khái niệm bảo hộ nhãn hiệu quốc tế được quy định trong phần giải thích từ ngữ. Bảo hộ nhãn hiệu quốc tế có thể hiểu như sau: Bảo hộ nhãn hiệu quốc tế ở Việt Nam giống như nhãn hiệu đã được đăng ký tại Việt Nam là việc Nhà nước, thông qua hệ thống luật pháp và các cơ quan có thẩm quyền, xác lập quyền sở hữu đối tượng, sở hữu công nghiệp cho tổ chức, cá nhân hay doanh nghiệp đã sáng tạo ra hoặc nắm giữ hay sở hữu đối tượng nhãn hiệu quốc tế và bảo vệ quyền của chủ sở hữu chống lại mọi sự xâm phạm của các đối tượng khác. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật không định nghĩa thuật ngữ bảo hộ quyền SHTT, bảo hộ quyền SHCN.
Luật SHTT của Việt Nam còn dùng cả hai thuật ngữ bảo hộ quyền SHTT (Protection of Intellctual Property Rights) và bảo vệ quyền SHTT (Protection of Intellectual Property Rights), cả hai thuật ngữ này khi chuyển sang tiếng Anh đều giống hệt nhau mà không có sự phân biệt. Thực chất thuật ngữ bảo vệ quyền SHTT là thực thi quyền SHTT (Enforcement of Intellectual Property Rights). Do đó, có thể quan niệm nội hàm của thuật ngữ bảo hộ quyền SHTT bào gồm cả việc bảo vệ (thực thi) quyền SHTT. Trong Luận văn này, tác giả không dùng thuật ngữ bảo vệ quyền SHTT mà thay vào đó là sử dụng thuật ngữ thực thi quyền SHTT.
13 z Tại điều 10, Luật SHTT chỉ quy định nội dung quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, bao gồm: 1. Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ. Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về sở hữu trí tuệ.
Cấp và thực hiện các thủ tục khác liên quan đến Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, Bằng bảo hộ giống cây trồng. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ. Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê về sở hữu trí tuệ. Tổ chức, quản lý hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.
Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về sở hữu trí tuệ. Hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ. Hơn nữa, theo Lê Văn Kiều (Lê Văn Kiều, Bài giảng thực thi quyền SHTT, Đại học KHXH&NV, Hà Nội 2006) thì việc bảo hộ quyền SHTT bao gồm: - Ban hành các quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ; - Xác lập quyền sở hữu trí tuệ; - Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ văn bằng đang được bảo hộ; - Thực thi quyền SHTT là thực hiện các biện pháp theo quy dịnh của pháp luật nhằm bảo vệ các quyền của chủ SHTT và ngăn chặn, xử lý người khác sử dụng các đối tượng SHTT được bảo hộ. Thực thi quyền SHTT đối với các đối tượng SHTT là biện pháp tác động bằng pháp luật thông qua việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự, hành chính và kiểm soát biên giới, đối với sản phẩm, hàng hoá nhằm chống lại các hành vi xâm phạm.
Như vậy, ta cũng có thể hiểu bảo hộ nhãn hiệu quốc tế là một phần trong việc bảo hộ quyền SHTT, thực thi quyền SHCN. Khái niệm quản lý nhãn hiệu quốc tế Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường cùng với sự hội nhập của nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã nhận thấy Việt Nam là môi trường tiềm năng để kinh doanh cũng chính vì lẽ đó mà nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã tranh thủ đăng kí nhãn hiệu hàng hoá vào Việt Nam, điều đó cũng có nghĩa là nhiều nhãn hiệu cũng sẽ tăng mạnh trong tương lai. Việc quản lý các nhãn hiệu này hoạt động ra sao, cạnh tranh như thế nào cũng là một trong những vấn đề cần quan tâm và nổi cộm nhất. Do đó, việc quản lý nhãn hiệu quốc tế được hiểu như sau: Quản lý nhãn hiệu quốc tế được dựa trên phương pháp quản lý các đơn từ việc đăng ký nhãn hiệu từ nước ngoài thông qua WIPO khi đăng ký vào Việt Nam, qua việc tiếp nhận từ một đơn vị thuộc Cục SHTT (NOIP) và thẩm định đơn.
Việc thẩm định đơn được các thẩm định viên nhãn hiệu là các cán bộ tại Cục SHTT có chuyên môn để thẩm định khả năng bảo hộ của nhãn hiệu dựa trên các thông tin về đơn nhãn hiệu quốc tế khi đăng ký như: tên chủ hiện tại của đơn, địa chỉ hiện tại của chủ đơn, nhóm danh mục sản phẩm dịch vụ của đơn, các phần danh mục sản phẩm của đơn khi chuyển nhượng hay chuyển giao cho chủ sở hữu khác (phần chuyển nhượng hay chuyển giao này có thể là một phần hay toàn phần danh mục sản phẩm hàng hoá), thời hạn bảo hộ của đơn, nhãn hiệu của đơn …các thông tin khác liên quan đến đơn quốc tế. Kết quả thẩm định được lưu trong hệ thống quản lý thông tin KH&CN của NOIP, đăng tải kết quả trên công bố A của Cục SHTT, đồng thời kết quả đó cũng được gửi thông tin lên chương trình tra cứu như IPLib, IPsea và các chương trình tra cứu khác giành cho các thẩm định viên có quyền sử dụng, cùng thời điểm đó Cục trả lại kết quả thẩm định tới nơi gửi đơn đăng ký quốc tế tới WIPO thông qua hệ thống thông tin khoa học của Cục SHTT hay chuyển kết quả thông tin bằng các phương thức đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không, đường truyền Internet. Việc quản lý nhãn hiệu quốc tế khi đăng ký vào Việt Nam theo chủ thể quản lý có thể chia thành các đối tượng quan trọng sau: 15 z Chương trình tra cứu Madrid trong hệ thống NOIP là một chương trình hữu ích và mạnh mẽ cho các thẩm định viên của Cục (nhưng chuyên viên được phép và có mã sử dụng) trong việc tìm kiếm sự bảo hộ đối với nhãn hiệu quốc tế của doanh nghiệp, tổ chức ở nước ngoài, là công cụ hữu ích cho việc quản lý đơn nhãn hiệu quốc tế. Bên cạnh đó, việc quản lý đơn cũng thường xuyên phải cập nhật các thông tin khoa học và công nghệ về đơn đăng ký nhãn hiệu quốc tế trên chương trình tra cứu ROMARIN của hệ thống Internet ở WIPO.