MỞ ĐẦU Lý do lựa chọn đề tài: Trong những năm gần đây xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống vật chất, mức sống con người ngày càng tăng cao hơn so với trước kia. Giá trị con người được thể hiện, quyền con người được ghi nhận trong Hiến Pháp nói chung và luật hình sự nói riêng, mỗi người đều có những quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, họ được phép bảo vệ bản thân chống lại sự tấn công của người khác và những hành vi đó được loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội. Một trong những hành vi của con người vì muốn bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên thì được coi là phòng vệ chính đáng, hành vi này không được coi là tội phạm. Chính vì vậy để phòng và chống những hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm của con người nói chung, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người được thể hiện qua hành vi phòng vệ chính đáng nói riêng là cấp bách luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cao và chú trọng.
Xuất phát từ những vấn đề nói trên nên nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài “ Phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành, Lý luận – Thực tiễn” nhằm đóng góp một phần công sức của mình vào việc sửa đổi, bổ sung bộ luật hình sự và xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Mục tiêu đề tài: Tập trung nghiên cứu bản chất, tính chất và mức độ của phòng vệ chính đáng, hành vi vượt quá giới hạn cho phép trong phòng vệ chính đáng. Để từ đó có thể đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với chế định này trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và bảo vệ quyền lợi bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người. Phương pháp nghiên cứu: 2 Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm.
Bài nghiên cứu không những sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật mà còn sử dụng các phương pháp so sánh, logic, phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh kết hợp lý luận với thực tiễn và một số phương pháp khác mà chúng tôi đã vận dụng để hoàn thành bài nghiên cứu này. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự Việt Nam hiện hành. Phạm vi nghiên cứu : Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự Việt Nam, đồng thời nghiên cứu thực tiễn xét xử những vụ án phòng vệ chính đáng, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, từ đó đánh giá đúng về những trường hợp loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội, đưa ra kiến nghị, đề xuất, giải quyết nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu góp phần hoàn thiện chế định phòng vệ chính đáng của Bộ luật hình sự hiện hành hơn trong tương lai. Phạm vi nghiên cứu về thời gian: bài nghiên cứu về thực trạng của chế định phòng vệ chính đáng từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực đến nay.
Cách tiếp cận: thông qua sách, báo, các Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành, các tài liệu tham khảo như trên mạng và các cơ quan chức năng của Nhà nước Việt Nam (Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Công an nhân dân. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Định nghĩa và ý nghĩa của phòng vệ chính đáng 1.1 Định nghĩa Trong luật hình sự Việt Nam, phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 15 Bộ Luật Hình Sự năm 1999 với nội dung: “ Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà Nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên”. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm, Nhà nước muốn thông qua hành vi phòng vệ chính đáng của công dân để ngăn chặn hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, lợi ích chính đáng của họ hoặc của người khác. Do đó, hành vi phòng vệ đáng đã làm loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mặc dù hành vi phòng vệ chính đáng có thể gây ra những thiệt hại nhất định.
Phòng vệ chính đáng là hành vi tích cực và Nhà nước khuyến khích công dân thực hiện nhưng phòng vệ là quyền của công dân chứ không phải là nghĩa vụ, việc thực hiện hay không thực hiện quyền này là phụ thuộc vào các điều kiện khách quan và chủ quan trong từng trường hợp cụ thể.2 Ý nghĩa của phòng vệ chính đáng Phòng vệ chính đáng là tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi đã tạo cơ sở pháp lí vững chắc để mọi người tích cực ngăn chặn các hành vi nguy hiểm, góp phần đấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm, đảm bảo cho cá nhân, tổ chức có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người khác trong những trường hợp cần thiết, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, tính mạng của con người trong Nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, hành vi phòng vệ chính đáng phải được thực hiện trong những khuôn khổ pháp lý nhất định, 4 phù hợp với pháp luật, không trái với chuẩn mực xã hội, vì tuy là quyền nhưng công dân không thể thay Nhà nước để xử lí các hành vi vi phạm. Phòng vệ chính đáng không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe doạ, đẩy lùi sự tấn công trái pháp luật mà nó còn thể hiện thái độ tích cực chống trả sự xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của mình hoặc của người khác. Phòng vệ chính đáng là quyền của con người nên không yêu cầu phương pháp, phương tiện của người phòng vệ phải như phương pháp, phương tiện mà người tấn công sử dụng.2 Các điều kiện của phòng vệ chính đáng Một hành vi được xem là hành vi phòng vệ chính đáng trước hết bản thân người thực hiện hành vi này phải có quyền phòng vệ và sau đó phải phòng vệ trong những phạm vi và giới hạn nhất định mới được xem là phòng vệ chính đáng.
Do vậy, các điều kiện của phòng vệ chính đáng bao gồm hai nhóm điều kiện là các điều kiện làm phát sinh quyền phòng vệ và các điều kiện về nội dung và phạm vi phòng vệ.1 Các điều kiện làm cơ sở phát sinh quyền phòng vệ 1.1 Có sự tấn công nguy hiểm đáng kể và trái pháp luật Sự tấn công phải là hành vi của con người, nếu nguồn nguy hiểm do thiên nhiên hoặc súc vật gây ra thì không phát sinh quyền phòng vệ mà phát sinh tình trạng nguy hiểm của tình thế cấp thiết. Sự tấn công phải nguy hiểm đáng kể, thông thường tính nguy hiểm của hành vi tấn công thường được xác định nguy hiểm đến mức là tội phạm, đây không phải là điều kiện bắt buộc vì hành vi tấn công có thể do người không đủ điều kiện về chủ thể thực hiện hoặc hành vi tấn công đang xảy ra hoặc đang đe dọa xảy ra ngay tức khắc và chưa xác định cụ thể mức độ thiệt hại nên chưa thể biết là hành vi đó có cấu thành tội phạm hay không thì cũng là hành vi nguy hiểm đáng kể. Bên cạnh đó, để làm phát sinh quyền phòng vệ thì hành vi tấn công phải trái pháp luật. Vì phòng vệ chính đáng là cho phép công dân dùng vũ lực để chống trả lại các hành vi xâm phạm các lợi ích được Nhà nước bảo vệ nên các hành vi xâm phạm đó phải là những hành vi trái pháp luật, là những hành vi mà pháp luật không cho phép thực hiện.
Nếu hành vi xâm phạm là hành vi mà pháp luật cho phép thì người bị xâm phạm không có quyền chống trả để phòng vệ. Mức độ đáng kể ở đây là tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm (quan hệ xã hội cần bảo vệ). Nếu quan hệ xã hội cần bảo vệ càng quan 5 trọng bao nhiêu thì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm của nạn nhân càng nghiêm trọng bấy nhiêu. Ví dụ: Một người trèo tường để đột nhập vào nơi cất giữ tài liệu tối mật về an ninh quốc phòng được canh phòng cẩn thận, thì tính chất nghiêm trọng hơn nhiều so với người trèo tường vào một gia đình nông dân để trộm cắp tài sản.
Mức độ đáng kể của hành vi xâm phạm còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công của nạn nhân (người có hành vi xâm phạm) Ví dụ: Hành vi dùng dao uy hiếp người trong tiệm vàng sẽ nguy hiểm hơn hành vi thò tay trộm túi tiền của người đi đường.2 Sự tấn công xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, đây là những quyền và lợi ích được Nhà nước bảo vệ Hành vi xâm hại không chỉ xâm hại đến lợi ích của người phòng vệ mà còn xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức và của các cá nhân khác. Các lợi ích bị xâm hại thường là những lợi ích về tài sản hoặc nhân thân như tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm. Hành vi tấn công đang xâm hại lợi ích hợp pháp – cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng.