Chương 1 TONG QUAN VE CƠ SỞ THUC TIEN CUA VIỆC SỬA DOI BO LUAT LAO DONG NAM 2012 1. Khái niệm và tầm quan trọng của việc xác định cơ sở thực tiễn của việc sửa đổi Bộ luật Lao động năm 2012 1. Khái niệm cơ sở thực tiễn của việc sửa đổi, bỗ sung các văn ban luật Trong chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận nhận thức (hay nhận thức luận) là một nội dung cơ ban của phép biện chứng: đó là lý luận nhận thức duy vật biện chứng, tức học thuyết về khả năng nhận thức của con người đối với thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn; lý giải bản chất, con đường và quy luật chung của quá trình con người nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan nhằm phục vụ hoạt động thực tiễn của con người. Từ đó có thê hiểu rằng thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng dưới nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học. Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn. Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên dé tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động của các cộng đồng người, các tô chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị xã hội dé thúc day xã hội phát triển.
Thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn. Đây là hoạt động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo 14 ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu. Dạng hoạt động này có vai trò trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thé thay thé cho nhau song chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau.
Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất vật chất là loại hoạt động có vai trò quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động thực tiễn khác. Bởi vì, nó là hoạt động nguyên thủy nhất và tồn tại một cách khách quan, thường xuyên nhất trong đời sống của con người và tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu nhất, có tính quyết định đối với sự sinh tồn và phát triển của con người. Không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thé có các hình thức thực tiễn khác. Các hình thức thực tiễn khác, Suy đến cùng cũng xuất phát từ thực tiễn sản xuất vật chất và nhằm phục vụ thực tiễn sản xuất vật chat.
Nói như vậy không có nghĩa là các hình thức hoạt động chính tri xã hội và thực nghiệm khoa học là hoàn toàn thụ động, lệ thuộc một chiều vào hoạt động sản xuất vật chất. Ngược lại, chúng có tác dụng kìm hãm hoặc thúc đây hoạt động sản xuất vật chất phát triển. Chăng hạn, nếu hoạt động thực tiễn chính trị xã hội mang tính chất tiễn bộ, cách mạng và nếu hoạt động thực nghiệm khoa học đúng đắn sẽ tạo đà cho hoạt động sản xuất phát triển; còn nếu ngược lại, thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động sản xuất vật chất. Chính sự tác động qua lại lẫn nhau của các hình thức hoạt động cơ bản đó làm cho hoạt động thực tiễn vận động, phát triển và ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động nhận thức.
Như vậy, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức chân lý. Sở 15 dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức; nó dé ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức, khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức. Chính con người có nhu cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế giới va cải tao thế giới nên con người phải tac động vào các sự vật, hiện tượng băng hoạt động thực tiễn của mình. Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nam bắt được bản chất, các quy luật vận động và phát triển của thế giới.
Trên cơ sở đó mà hình thành nên các lý thuyết khoa học. Có thể nói, suy cho cùng, không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn. Trong việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật cũng vậy, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của xã hội và việc áp dụng các quy định của pháp luật mà con người nhận thức được những quy định không còn phù hợp, lạc hậu và thậm chí gây cản trở cho quá trình phát triển của xã hội nói chung và trong lĩnh vực mà từng quy phạm pháp luật điều chỉnh nói riêng. Từ đó, việc xem xét, sửa đôi, bố sung hoặc thậm chí là bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp được đặt ra.
Tóm lại, từ những phân tích nêu trên, có thể thấy cơ sở thực tiễn của việc sửa đôi, bố sung các văn bản pháp luật là toàn bộ hoạt động từ nghiên cứu, đánh giá, tong kết, dé xuất, xây dựng, thông qua và áp dụng trong thực tiễn các quy định của pháp luật từ trước đến nay dé xem xét việc cần thiết hay không cần thiết phải sửa đổi, bố sung hoặc thay thé văn bản quy phạm pháp luật. Tam quan trọng của việc xác định cơ sở thực tiễn cho việc sửa doi, bỗ sung Bộ luật Lao động năm 2012 Trước tình hình hội nhập thương mại quốc tế và phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là xuất phát từ những 16 vướng mắc, bất cập trong thực tiễn 5 năm thi hành Bộ luật Lao động năm 2012, một yêu cầu cấp thiết được đặt ra đó là Bộ luật Lao động cần phải được tiếp tục hoàn thiện dé khắc phục những hạn chế, vướng mặc còn tồn tại va đáp ứng yêu câu của thực tiên. Đối với việc thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo dam tính thống nhất của hệ thong pháp luật: Trong quá trình soạn thảo Bộ luật Lao động năm 2012 (từ năm 2008 đến tháng 5/2012), dù dự thảo Bộ luật đã có gắng tiếp thu cơ bản tinh than của dự thảo Hiến pháp nhưng sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, nội dung của Bộ luật Lao động năm 2012 vẫn chưa thể chế hóa được các nội dung của Hiến pháp liên quan đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Do vậy, Bộ luật Lao động cần được tiếp tục sửa đối dé bố sung các chế định mới nhằm thé chế hoá Hiến pháp năm 2013 về quyền con người trong trong lĩnh vực lao động, quan hệ lao động và thị trường lao động.
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây Quốc hội đã ban hành nhiều Luật mới làm ảnh hưởng tới nội dung của Bộ luật Lao động như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các Luật chuyên ngành tách ra từ nội dung của Bộ luật Lao động (như: Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật an toàn - vệ sinh lao động năm 2015). Do đó, Bộ luật Lao động cần tiếp tục được sửa đổi nhăm đảm bảo sự thống nhất, sự phù hợp với nội dung của các Luật mới ban hành gân đây. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước trong thời gian qua đặt ra yêu cầu "nội luật hóa theo lộ trình phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trước hết là luật pháp về thương mại, đâu tư, sở hữu trí tuệ và chuyên giao công nghệ, lao động - công doan". 17 Trong lĩnh vực lao động, các cam kết trong khuôn khổ Liên hợp quốc, nghĩa vụ là thành viên của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới yêu cầu Việt Nam có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các nguyên tắc về các quyền cơ bản tại nơi làm việc của NLĐ.
So sánh, đối chiếu Bộ luật Lao động năm 2012 với các tiêu chuẩn lao động quốc tẾ cơ bản quy định trong Công ước của ILO thì vẫn còn một số nội dung chưa tương thích, chủ yếu tập trung vào các nội dung về quyền tự đo liên kết và thúc đây thương lượng tập thể. Do vậy, cần tiếp tục sửa đổi bố sung Bộ luật Lao động dé bảo đảm sự phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ ban và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thê chế chính trị của Việt Nam. Từ những nội dung nên trên cho thấy tầm quan trọng của việc xác định cơ sở thực tiễn cho việc sửa đổi, bố sung Bộ luật Lao động năm 2012 đó là, Bộ luật Lao động phải phù hợp với điều kiện thực tiễn, ở đây không chỉ là với điều kiện thực tiễn trong nước (giải quyết những bất cập, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện từ phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp, NSDLĐ, t6 chức công đoàn va NLD.) mà nó còn phải phù hợp và thé hiện trách nhiệm của Việt Nam trong các cam kết quốc tế nhất là trong điều kiện Việt Nam đang hội nhập sâu rộng quốc tế, với việc tham gia sân chơi lớn hơn (hội nhập) thì chúng ta cũng phải thực hiện luật chơi chung (các nội dung đã cam kết trong các điêu ước quôc tê). Bối cảnh kinh tế - xã hội của việc sửa đối Bộ luật lao động năm 2012 1.