CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu ở các nước Ở các nước, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển. Điển hình trong số những tác giả và công trình nghiên cứu nói trên phải kể đến: (i) J. Merrills (2011), International Dispute Settlement, 5th ed., Cambridge University Press; (ii) James P.
Nicely, Understanding the WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating History and Subsequent Interpretation, Cameron May Ltd.,; (iii) David Palmeter, Petros C. Mavroidis (2004), Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure, 2nd ed., Cambridge: Cambridge Univ.,; (iv) Peter Van den Bossche (2008), The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials, 2nd ed., Cambridge University Press; (v) Terence P. Stewart (1993), The GATT Uruguay Round: A negotiating history (1986-1992), Volume II: Commentary, Deventer: Kluwer Law and Taxation Publishers v. Ngoài ra, còn có các tài liệu đăng trên các trang thông tin điện tử như tài liệu về “Anti-dumping measures” trong khuôn khổ khóa học về “Dispute Settlement – World Trade Organization” của Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD); bài viết “The role of Public International Law in the WTO: How far can we go?” của tác giả Joost Pauwelyn; bài viết “Does WTO Dispute Settlement provide effective remedies for Anti-dumping Measure” của tác giả Alam Mansoor; bài viết “WTO Dispute Settlement: Challenges faced by developing countries in the implementation and enforcement of DSB recommendations and rulings” của tác giả Jimcall 9 Pfumorodze; bài viết “Developing Countries and General Agreement on Tariffs and Trade/World Trade Organization Dispute Settlement” của các tác giả Marc L.
Busch và Eric Reinhardt; bài viết “Developing Countries and Dispute Settlement: Having One’s Day in Court;” của tác giả Roderick Abbott; bài viết “Developing Countries and the Initiation of GATT/WTO Disputes” của tác giả Todd Allee; bài viết “The WTO Dispute Settlement System: How have Developing Countries fared?” của tác giả William J. Davey; bài viết “Shifting Coordinates of India’s Stance at the WTO: Understanding the Domestic and International Economic Drivers” của tác giả Amit Shovon RAY; bài viết “China's WTO entry: Antidumping, Safeguards, and Dispute Settlement” của tác giả Chad P. Bown; sách tham khảo “Dispute Settlement at the WTO: The Developing country experience” của các tác giả Gregory C. Shaffer và Ricardo Meléndez-Ortiz; bài viết “China: How to Fight the Antidumping War?” của tác giả Jason Z.
Yin; bài viết “Dispute Settlement in the WTO and the Least Developed Countries: the Case of India’s Anti-Dumping Duties on Lead Acid Battery Import from Bangladesh” của tác giả M. Taslim; bài viết “Sense and Sensibilities of China and WTO Dispute Settlement” của tác giả Marcia Don Harpaz; bài viết “The WTO Dispute Settlement Understanding from a Developing Country Perspective: The Example of Thailand” của tác giả Mickey J. Wheatley; bài viết “China in the WTO: Antidumping and Safeguards” của tác giả Patrick A. Messerlin; bài viết “India at Dispute Settlement Understanding” của tác giả Simi T.
Bên cạnh đó, một số tài liệu đã được dịch sang tiếng Việt như cuốn “Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO”, bản dịch của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế xuất bản năm 2006 v. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập, ở những mức độ chi tiết khác nhau, về: 10 Một là, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế và việc áp dụng pháp luật đó trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá tại WTO. Có nhiều công trình nghiên cứu ở các nước về vấn đề này, trong đó, điển hình là một số công trình nghiên cứu như cuốn “The GATT Uruguay Round: A negotiating history (1986-1992), Volume II: Commentary” của Terence P. Stewart; cuốn “Understanding the WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating History and Subsequent Interpretation” của James P.
Durling và Matthew R. Nicely; cuốn “Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure” của David Palmeter và Petros C. Mavroidis; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; và cuốn sách dịch “Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO” của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế v. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu phân tích lịch sử của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO bắt đầu từ sự ra đời và trên cơ sở kế thừa và phát triển pháp luật của GATT 1947, có phân chia thành các giai đoạn cụ thể tương ứng với những cột mốc quan trọng (trước và sau khi có GATT 1947 và sự ra đời của WTO, các bản ADC, ADA và DSU v.v), đồng thời có đánh giá xu hướng vận động và phát triển của lĩnh vực pháp luật này.
Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ phân tích, một cách riêng rẽ, lịch sử hình thành và phát triển của các yếu tố cấu thành lên pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ yếu là DSU và ADA, mà chưa đặt chúng trong một bức tranh tổng thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO. Hai là, các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp tại WTO. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể nhắc tới như cuốn “Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure” 11 của Palmeter, N. David; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; bài viết “The role of Public International Law in the WTO: How far can we go?” của Joost Pauwelyn đăng trên tạp chí “The American Journal of International Law”, VOL.
Mặc dù vẫn còn có những quan điểm khác nhau về số lượng, tên gọi, vị trí, vai trò đối với từng loại nguồn, nhưng nhìn chung, trong những nghiên cứu của các học giả trên thế giới, việc xác định các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp tại WTO, cơ bản cũng đều dựa trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền thống theo Điều 38(1) của Qui chế Tòa án Công lý Quốc tế và có tính tới cả những đặc thù của WTO. Ba là, DSM của WTO với những vấn đề chung như hệ thống các nguyên tắc, các cơ quan tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp, các phương thức giải quyết tranh chấp, các loại khiếu kiện trong những tranh chấp được giải quyết tại WTO (khiếu kiện vi phạm, khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình huống); các bên nguyên đơn, bị đơn, bên thứ ba và các tổ chức, cá nhân khác trong vụ tranh chấp tại WTO; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO với bốn giai đoạn bao gồm tham vấn, xét xử tại Ban hội thẩm, kháng cáo và xét xử phúc thẩm và giai đoạn thực thi quyết định của DSB; vấn đề bảo mật và qui tắc đạo đức nghề nghiệp trong giải quyết tranh chấp nói chung tại WTO v. Đây là nội dung đã được những công trình nghiên cứu ở các nước đề cập và phân tích một cách tương đối chi tiết và toàn diện, trong số đó có thể kể tới cuốn sách “WTO disputes: anti-dumping, subsidies and safeguards” của Edwin A. Vermulst, Folkert Graafsma; cuốn sách “Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure” của David Palmeter và Petros C.
Mavroidis; cuốn sách “Key issues in WTO dispute settlement: the first ten years” của Rufus Yerxa và Bruce Wilson; giáo trình “The Law and Policy of the World 12 Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; cuốn sách “International Dispute Settlement” của J. Merrills; cuốn sách dịch “Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO” của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế v. Bốn là, chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt trong DSM của WTO dành cho các nước đang phát triển. Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở các nước như cuốn sách “Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure” của David Palmeter và Petros C.
Mavroidis; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche v. Ngoài việc phân tích nội dung chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng, các công trình nghiên cứu nói trên còn có sự đánh giá về tính khả thi của những đối xử đặc biệt và khác biệt này. Phần lớn các ý kiến đều cho rằng, chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt chỉ mang tính hình thức và không mang lại hiệu quả thiết thực trong việc thúc đẩy và trợ giúp các nước đang phát triển khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO. Năm là, quan niệm của WTO về chống BPG và pháp luật của WTO về chống BPG.
Đây là vấn đề đã được nghiên cứu tương đối chi tiết và đầy đủ ở các nước, với một số công trình nghiên cứu điển hình như cuốn “Understanding the WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating History and Subsequent Interpretation” của James P. Durling và Matthew R. Nicely; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; các tài liệu sử dụng trong khóa học “Dispute Settlement – World Trade Organization” của UNCTAD với chủ đề “Anti-dumping measures” và tài liệu đào tạo về “The WTO Agreement on Anti-dumping” v. 13 Sáu là, phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB, bao gồm, tranh chấp về thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp về biện pháp tạm thời và tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA.
Điển hình trong số các công trình nghiên cứu đề cập tới nội dung này là cuốn “Key issues in WTO dispute settlement: the first ten years” của Rufus Yerxa và Bruce Wilson; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; cuốn “WTO Dispute Settlement Understanding: A Detailed Interpretation” của Guohua Yang; cuốn “WTO disputes: anti-dumping, subsidies and safeguards” của Edwin A. Vermulst và Folkert Graafsma; bài nghiên cứu “The Case for Tradable Remedies in WTO Dispute Settlement” của Kyle Bagwell, Petros C. Mavroidis, và Robert W. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu nói trên còn chưa phân tích chuyên sâu về những vấn đề mà Việt Nam cần lưu ý đối với phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB.
Bảy là, thực tiễn giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung và các tranh chấp về chống BPG nói riêng tại WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển.