Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã. Chương 2: Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã (qua thực tiễn thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông). Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện hiệu quả pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã (qua thực tiễn thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông) trong thời gian tới. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Cơ sở lý luận về pháp luật đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 1. Các khái niệm cơ bản a) Pháp luật là gì Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và làm nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. b) Khái niệm pháp luật được thể hiện bằng 4 ý sau Thứ nhất, pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, nói đến pháp luật là nói đến tính quy phạm phổ biến. Thứ hai, Pháp luật là do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận.
Thứ ba, Pháp luật đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thời hạn, tù chung thân … Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội. Thứ tư, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều hành các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. c) Khái niệm về cán bộ và cán bộ cấp xã Nước ta đang trong giai đoạn đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) vừa xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
9 Vì vậy, cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ đảm bảo, có chất lượng đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã, phường. Cán bộ là một thuật ngữ quen thuộc không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước trên thế giới. Riêng ở nước ta, thuật ngữ cán bộ được sử dụng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) và được sử dụng phổ biến từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, dùng để chỉ một lớp người là chiến sỹ cách mạng, lớp người mới, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với Nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Tên gọi cán bộ đã để lại dấu ấn đẹp trong lịch sử cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đất nước.
Theo từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng (năm 2006), “cán bộ được hiểu là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” 44,tr. Trong tác phẩm Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa do Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên) thì: “Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức” 39,tr. Tại Điều 4, Luật CBCC được Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung 10 ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị được chia thành nhiều cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp quận, huyện và cấp xã, phường, thị trấn.
Cán bộ ở xã, phường, thị trấn được gọi chung là cán bộ cấp cơ sở. Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ với các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, huyết thống, phong tục tập quán và những sinh hoạt chung khác. Cấp cơ sở có vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta, đó là nơi trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân; cụ thể hóa các chỉ thị, Nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên. Người lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ đó ở cơ sở chính là đội ngũ cán bộ ở cơ sở hay cán bộ, công chức cấp xã.
Tại Khoản 3, Điều 4 của Luật CBCC năm 2008 quy định rõ: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Tại Điều 61 của Luật Cán bộ, công chức và Khoản 3, Điều 1 của Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cán bộ cấp xã gồm có các chức danh sau đây: - Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; - Chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam; - Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; - Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam; 11 - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam). - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. d) Khái niệm về công chức, công chức cấp xã Ở bất kỳ quốc gia nào, nhà nước muốn tổ chức và quản lý xã hội tốt đều phải coi trọng việc xây dựng và quản lý đội ngũ công chức.
Công chức là khái niệm được sử dụng phổ biến ở các nền công vụ trên thế giới, dùng để chỉ những người thừa hành quyền lực nhà nước để quản lý xã hội. Thuật ngữ “công chức” được quy định có sự khác nhau ở các quốc gia do điều kiện lịch sử, văn hóa truyền thống, thể chế chính trị, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước. Nền công vụ Pháp quy định "Công chức bao gồm toàn bộ những người được nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công" [19]. Theo cách hiểu này, công chức Pháp gồm 3 loại: Công chức hành chính nhà nước, công chức trực thuộc cộng đồng lãnh thổ và công chức trực thuộc các công sở tự quản.
Ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính. Ở Mỹ, tất cả các nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị (còn gọi là công chức chính trị), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính. Ở châu á như Nhật Bản công chức được xác định trong Luật Công chức, theo đó bao gồm toàn bộ những người làm công ăn lương do Ủy ban Nhân sự quốc gia quản lý. Công chức ở Nhật Bản bao gồm tất cả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, và các đơn vị sự nghiệp nhà nước 12 như các bệnh viện công, trường học công.
Tuy nhiên, số bệnh viện công, trường học công và các đơn vị sự nghiệp khác ở Nhật Bản rất ít do sự phát triển mạnh mẽ của khu vực tư nhân. Ở nước ta, khái niệm công chức được hình thành gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Trải qua các giai đoạn phát triển của nền hành chính nhà nước thì khái niệm này được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Do đặc điểm cấu trúc hệ thống chính trị ở nước ta nên quan niệm về công chức ở Việt Nam cũng có những đặc thù.
Khái niệm công chức cũng đã được quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì, công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [24]. Con người luôn là nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của bất cứ tổ chức nào, bởi chỉ có thông qua con người, tổ chức mới có thể đạt được mục tiêu của mình.