Chương 1 MOT SO VAN DE LÍ LUẬN VE QUAN LÍ BAO CHÍ TRONG BOI CANH TRUYEN THONG HOI TU 1. Các khái niệm cơ ban về quan lý báo chí trong bối cảnh TTHT 1. Báo chí Theo triết học cổ Hy Lạp: “Chữ báo chí xuất phát từ chữ information có nghĩa là thông tin, thông báo, báo tin và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho sự hiểu biết của con người về thé giới xung quanh ton tại bằng việc lấy hiện thực khách quan đề phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữa nhà báo — tác phẩm —công chúng” [33, tr. Theo Nguyễn Văn Dững: “Báo chí là môt bộ phận cua truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nên tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh ướng, chỉ phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng.
Do đó, trong nhiễu trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng; và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng - trước hết phải nói đến báo chi” [21, tr. Cụ thé như sau: Hình 1. Mô hình khái niệm báo chí (Nguồn: Nguyễn Van Dững [11, tr.62] 15 Dưới góc nhìn pháp luật, khoản 1 điều 3 Luật báo chí số 103/2016/QH13 ngày 05 tháng 04 năm 2016: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dan tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử” [35]. Như vậy Luật báo chi đã chỉ rõ những loại hình báo chí trong xã hội như sau: - “Báo in là loại hình báo chi sử dụng chữ viết, tranh ảnh, thực hiện bằng phương tiện in dé phát hành đến ban đọc, gồm báo in, tap chí in” (Khoản 3 điều 3).
- “Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dân, phát sóng trên các hạ tang kĩ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau ” (Khoản 4 điều 3). - “Báo hình là loại báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tang kĩ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau ” (khoản 5 điều 3). - “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dan trên nên tang internet, bao gom báo điện tử và tạp chí điện tử” (khoản 6, điều 3). Quản lí nhà nước về báo chí.
Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê đưa ra quan niệm: “gudn ly là tổ chức, điều khiển hoạt động của một don vị, cơ quan” [34, tr. Hà Sỹ Hồ thì lại chỉ ra rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã dé ra”. Hay nói một cách khác: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [23. + Quản lí nhà nước: Quản lí nhà nước là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lí nhà nước (viết tắt là QLNN) ra đời với tính chất là một loại hoạt động quản lí xã hội.
Quản lí nhà nước là một hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng dé điều chỉnh các quan hệ xã hội và có thể xem là mộ hoạt động chức năng đặc biệt. 16 Theo nghĩa rộng: Quản lí Nhà nước là hoạt động của bộ máy Nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thê thống nhất. Theo nghĩa hẹp: Quản lí Nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tô chức; được thực hiện trên cơ sở và dé thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện bởi hệ thong các cơ quan quan lí hành chính Nhà nước. Quản lí Nhà nước là một sản phẩm của phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp với các đối tượng bị quản lí.
Ban chất của QLNN là quyền lực Nhà nước. Quyền lực Nha nước được ghi nhận, củng cô băng pháp luật và được thực hiện bởi bộ máy Nhà nước với cơ sở vật chất — tài chính to lớn, bằng phương pháp thuyết phục và cưỡng chế. Quản lí nhà nước trong luận văn được đề cập theo nghĩa hẹp. + Quản lí nhà nước về báo chí: là sự tác động có tô chức được điều chỉnh băng pháp luật, trên cơ sở quyền lực Nhà nước đối với hoạt động báo chí do cơ quan có thâm quyền trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành đề thực hiện hóa chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, đồng thời thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của công dân.
Ngày nay trong bối cảnh cách mạng 4.0, công tác QLNN về báo chí ngày càng quan trọng dé định hướng, bảo đảm hoạt động báo chí phát huy vai trò chiến đấu trên mặt trận tư tưởng với việc định hướng dư luận, phản biện xã hội, đấu tranh chống lại những quan điểm sai lệch, kiểm tra phát hiện những nơi làm đúng làm tốt dé biéu dương nhân rộng, theo dõi và kiểm tra phát hiện những nơi làm sai lệch dé uốn nắn dau tranh bảo đảm cho đường lối, chính sách của Dang và pháp luật của Nhà nước thực thi trong thực tế. Theo Nguyễn Văn Dững: “Quản li báo chí có thé phân chia thành hai cấp độ: quản lí vi mô và quản lí vĩ mô. Quản lí vi mô là quản lí tòa soạn báo chí. Ở cấp độ này, có thể gọi là quản trị tòa soạn báo chí.
Quản lí vĩ mô là quản lí nhà nước về báo chí” [19, tr. Như vậy, quản lí Nhà nước trong lĩnh vực báo chí cũng như bất kỳ dạng quản lí công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tô chức cao, được điều chỉnh bang pháp luật, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù của quan lí ngành. Truyền thông Khái niệm truyền thông được hình thành từ tiếng La tinh là “communicare” mang ý nghĩa truyền tải, giao tiếp. Truyền thông được hiểu là sản phẩm của con người, là việc truyền đạt thông tin, suy nghĩ, ý kiến, tri thức từ một hoặc nhiều người sang những người khác thông qua ngôn ngữ, lời nói, hình vẽ, chữ viết hoặc một hành động giao tiếp nào đó.
Theo quan niệm của một nhà nghiên cứu truyền thông người Anh - Dean C. Barnlund cho rằng: “7ruyên thông là quá trình liên tục làm giảm độ không rõ rang để có thể có hành vi hiệu quả hơn”. Giáo sư về truyền thông học người Mỹ - Frank Dance lại quan niệm: “Truyền thông là quá trình trước đây là độc quyên của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người ”. Theo quan niệm này truyền thông có thể làm gia tăng tính độc quyền.
Dương Xuân Sơn đã chỉ ra răng: “7ruyên thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng nhằm tao sự liên kết lẫn nhau dé dẫn tới sự thay đổi trong hành động và nhận thức ” [38, tr7- tr9]. Nguyễn Văn Dững và cộng sự thì cho rằng: “Zruyén thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cam. chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiễu người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức tiễn tới diéu chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cau phát triển của cá nhân/ nhóm/ cộng dong/ xã hội” [LI, tr. Do đó, có thé hiểu: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi, chia sẻ thông tin giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiễn tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/ nhóm/ cộng đồng/ xã hội.
Truyền thông hội tụ Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: tụ là khi các chủ thể đến từ các hướng khác nhau gặp nhau tại một điểm hoặc một nơi [34, tr. Từ năm 1978, Nicholas Negroponte - giáo sư công nghệ truyền thông nổi tiếng người Mỹ đã đưa ra khái niệm hội tụ. Điều đó cho thấy răng, quá trình hội tụ 18 trên thế giới đã diễn ra từ vài thập kỷ nay. Tuy nhiên, đến năm 1983, Ithiel de Sola Pool - giáo sư của Học viện Công nghệ Hoa Ky (MIT) mới chính thức đưa ra khái niệm TTHT và dự doan rằng, với sự phát triển của kĩ thuật số sẽ khiến các loại hình truyền thông vốn được phân chia rạch roi, nay hội tụ với nhau [dẫn theo 3].
Và khái niệm TTHT (media covergence) chính thức ra đời từ đó. Hiểu theo cách đơn giản, một xu hướng mới không có ngăn cách giữa các loại hình báo chí (như báo In với truyền hình) chính là một trong những hình thức biểu hiện của TTHT ngày nay. Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, thuật ngữ “hội tụ” nơi đến sự kết hợp của hai hoặc nhiều công việc khác nhau trong cùng một thiết bị, ví dụ: sự hội tụ của máy tính và viễn thông trong điện thoại di động, điện thoại thông minh. Một thiết bị di động có thé tích hợp nhiều tiện ích như: nghe, goi, nhắn tin DPT, nghe nhac, chơi game, quay phim, chụp ảnh, định vi GPS, nhận mail, lướt web, đọc báo, nghe dai, xem truyên hình, lưu giữ thông tin.
McCrudden =5 Thu Truyền. đệntử 7 hìn Phát thanh Hình 1. Mô hình truyền thông hội tụ theo Nicholas Negroponte (nguồn: https://www.vn/) Theo David Cameron, điện thoại di động hiện nay không chỉ là thiết bị liên lạc mà còn là một phương tiện truyền thông phổ biến với nhiều tính năng ưu việt, đã và đang hình thành một xu hướng truyền thông, trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trong của truyền thông trên toàn cầu [dan theo 41]. 19 Trong cuốn Báo chí hội tụ Janet Kolodzy cho răng, viết và đưa tin thông qua phương tiện truyền thông mới (Convergence, writing and reporting across the new media): “7¡ruyên thông hội tụ là một quá trình diễn ra liên tục, phát triển dựa trên sự kết hợp cua bon yếu to: Nên công nghiệp truyền thông, đối tượng của truyền thông, nội dung truyền thông và công nghệ truyén thong” [55].McCrudden đã chỉ ra trong cuốn Mô hình truyền thông hội tụ (Media Convergence Models) : “TTHT là sự giao thoa giữa mô hình truyền thông mới và truyền thông truyền thống” [56].