Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường THPT Bình Phước

Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại THPT Bình Phước giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, phát triển năng lực học sinh.

Trường đại học

Đh Thủ Dầu Một

Chuyên ngành

Quản Lí Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2017

141
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại Bình Phước

Việc quản lí ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động dạy ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Phước là một nhiệm vụ chiến lược, đóng vai trò nền tảng cho quá trình chuyển đổi số trong giáo dục. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, CNTT không còn là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành yếu tố cốt lõi, quyết định đến chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học. Nghị quyết số 29-NQ/TW đã nhấn mạnh sự cần thiết phải "Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học" để đổi mới phương pháp dạy và học một cách toàn diện. Quá trình quản lí hiệu quả không chỉ dừng lại ở việc trang bị phần cứng mà còn bao gồm việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra, đánh giá một cách khoa học. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một môi trường giáo dục hiện đại, nơi giáo viên có đủ năng lực số để thiết kế giáo án điện tử và tổ chức các hoạt động giảng dạy tương tác, đồng thời học sinh được tiếp cận tri thức một cách chủ động và sáng tạo. Tại Bình Phước, Sở Giáo dục và Đào tạo đã có những chỉ đạo quyết liệt nhằm thúc đẩy việc này, tuy nhiên, để đạt được hiệu quả đồng bộ, cần có một hệ thống các giải pháp quản lí chặt chẽ và phù hợp với thực tiễn tại các nhà trường. Bài viết này sẽ phân tích sâu về thực trạng, thách thức và đề xuất các biện pháp quản lí khả thi, dựa trên cơ sở lí luận khoa học và dữ liệu khảo sát thực tế tại các trường THPT của tỉnh.

1.1. Tầm quan trọng của chuyển đổi số trong giáo dục hiện đại

Chuyển đổi số trong giáo dục là xu thế tất yếu, giúp ngành giáo dục bắt kịp với sự phát triển của xã hội. Việc áp dụng CNTT không chỉ thay đổi cách giáo viên truyền đạt kiến thức mà còn thay đổi cách học sinh tiếp thu và vận dụng. Các công cụ như dạy học trực tuyến, kho học liệu số, và phần mềm quản lí giáo dục giúp cá nhân hóa lộ trình học tập, mở rộng không gian học tập ra ngoài lớp học truyền thống. Điều này tạo điều kiện để phát huy tính tích cực, chủ động của người học, đúng theo tinh thần đổi mới giáo dục mà Đảng và Nhà nước đề ra. Hơn nữa, quá trình này còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

1.2. Mục tiêu đổi mới phương pháp dạy và học với công nghệ

Mục tiêu chính của việc ứng dụng CNTT là nhằm đổi mới phương pháp dạy và học. Thay vì lối truyền thụ một chiều, giáo viên sử dụng các công cụ Edtech để thiết kế bài giảng sinh động, tạo ra các hoạt động tương tác và khuyến khích học sinh tự nghiên cứu. Việc sử dụng giáo án điện tử, các phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo giúp học sinh dễ dàng hình dung các khái niệm trừu tượng. Theo nghiên cứu của Schacter (1999), "học sinh được tiếp cận với công nghệ phục vụ giảng dạy và học tập đều có tác động tích cực đối với thành quả học tập". Điều này khẳng định vai trò của CNTT trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, từ kiến thức, kỹ năng đến phát triển năng lực tự học của học sinh.

II. Thách thức quản lí ứng dụng CNTT tại trường THPT Bình Phước

Mặc dù nhận thức rõ tầm quan trọng, thực trạng ứng dụng CNTT tại Bình Phước vẫn đối mặt với nhiều thách thức đáng kể. Quá trình quản lí việc tích hợp công nghệ vào giảng dạy chưa thực sự đồng bộ và khoa học ở một số đơn vị. Theo khảo sát của Nguyễn Tiến Định (2013), có sự chênh lệch lớn về mức độ ứng dụng CNTT giữa các nhóm giáo viên và các vùng miền trong tỉnh. Một trong những rào cản lớn nhất là hạ tầng công nghệ thông tin trường học chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Nhiều trường vẫn thiếu các thiết bị hiện đại như bảng tương tác, phòng học thông minh, và hệ thống mạng không ổn định. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực số cho giáo viên còn gặp nhiều khó khăn. Một bộ phận giáo viên vẫn còn tâm lí ngại thay đổi, kỹ năng sử dụng các phần mềm chuyên dụng còn hạn chế. Các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ CNTT cho giáo viên đôi khi mang tính hình thức, chưa đi sâu vào giải quyết các vấn đề thực tiễn trong từng môn học. Ngoài ra, công tác quản lí ở cấp trường đôi khi còn thiếu một kế hoạch chiến lược dài hạn, chưa có bộ tiêu chí đánh giá rõ ràng, dẫn đến việc ứng dụng CNTT còn manh mún, tự phát và chưa phát huy hết hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin.

2.1. Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT của giáo viên tại tỉnh

Nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT tại Bình Phước cho thấy, mặc dù 100% giáo viên biết sử dụng máy tính, nhưng mức độ ứng dụng trong hoạt động dạy chuyên sâu còn hạn chế. Đa số giáo viên dừng lại ở việc sử dụng phần mềm trình chiếu PowerPoint để soạn giáo án điện tử, ít khai thác các phần mềm mô phỏng hay các công cụ dạy học trực tuyến. Một nghiên cứu chỉ ra rằng "GV khá thường xuyên ứng dụng CNTT trong hoạt động soạn giảng và giảng dạy, tuy nhiên GV còn ít triển khai việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giảng dạy chuyên sâu và soạn giảng tích hợp". Điều này cho thấy sự thiếu hụt về cả kỹ năng lẫn định hướng từ cấp quản lí.

2.2. Hạn chế về hạ tầng công nghệ thông tin và trang thiết bị

Hạ tầng công nghệ thông tin trường học là yếu tố nền tảng nhưng lại là một trong những điểm yếu lớn nhất. Báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Phước cho thấy dù 100% đơn vị có kết nối internet, nhưng chỉ có trung bình trên 2 phòng học được trang bị thiết bị CNTT hiện đại trên mỗi trường. Sự thiếu hụt và không đồng bộ về máy chiếu, bảng tương tác, và đường truyền mạng tốc độ cao gây cản trở lớn cho giáo viên khi muốn triển khai các tiết dạy ứng dụng công nghệ. Kế hoạch tu sửa, thay thế, bổ sung trang thiết bị CNTT ở một số trường chưa được thực hiện tốt, ảnh hưởng trực tiếp đến động lực của giáo viên.

2.3. Vấn đề trong việc nâng cao năng lực số cho đội ngũ giáo viên

Việc nâng cao năng lực số cho giáo viên là một bài toán khó. Mặc dù các trường có tổ chức tập huấn, nhưng nội dung thường chung chung, chưa sát với nhu cầu của từng bộ môn. Nghiên cứu chỉ ra rằng "HT chưa thực hiện tốt việc chỉ đạo tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kĩ năng sử dụng CNTT cho đội ngũ GV". Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên lớn tuổi còn tâm lý e ngại công nghệ. Để giải quyết vấn đề này, cần có các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ CNTT cho giáo viên được thiết kế riêng biệt, tập trung vào kỹ năng thực hành và có sự hỗ trợ, đồng hành từ đội ngũ giáo viên cốt cán.

III. Phương pháp xây dựng kế hoạch quản lí ứng dụng CNTT toàn diện

Để nâng cao hiệu quả quản lí việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy, các trường THPT tại Bình Phước cần xây dựng một kế hoạch bài bản và khoa học. Đây là chức năng đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình quản lí, định hướng cho mọi hoạt động tiếp theo. Kế hoạch cần được xây dựng dựa trên sự phân tích kỹ lưỡng thực trạng của nhà trường, từ hạ tầng công nghệ thông tin đến năng lực của đội ngũ giáo viên. Hiệu trưởng cần xác lập các mục tiêu rõ ràng, khả thi, có thể đo lường được cho từng giai đoạn. Quá trình lập kế hoạch phải có sự tham gia của các tổ chuyên môn và đội ngũ giáo viên cốt cán để đảm bảo tính thực tiễn. Một bản kế hoạch toàn diện không chỉ bao gồm mục tiêu ứng dụng CNTT trong giảng dạy mà còn phải có các kế hoạch tác nghiệp chi tiết, như: kế hoạch đầu tư, nâng cấp trang thiết bị; kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ CNTT cho giáo viên; và kế hoạch huy động các nguồn lực tài chính. Việc triển khai các giải pháp quản lí CNTT trong nhà trường một cách có hệ thống sẽ giúp quá trình quản trị nhà trường thời 4.0 đi vào chiều sâu, thay vì chỉ mang tính hình thức, phong trào.

3.1. Xây dựng kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp chi tiết

Kế hoạch chiến lược vạch ra tầm nhìn dài hạn về ứng dụng CNTT, trong khi kế hoạch tác nghiệp cụ thể hóa các công việc theo từng năm học, học kỳ. Các kế hoạch tác nghiệp cần được xây dựng chi tiết, ví dụ: kế hoạch mua sắm 10 máy chiếu mới trong năm học, tổ chức 2 đợt tập huấn chuyên sâu về phần mềm X cho tổ Tự nhiên. Theo tài liệu nghiên cứu, một trong những hạn chế là "HT chưa thực hiện tốt việc lập một số loại kế hoạch tác nghiệp". Do đó, việc chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch là yêu cầu cấp thiết, giúp nhà trường chủ động trong mọi hoạt động và phân bổ nguồn lực hợp lý.

3.2. Tổ chức bộ máy và phân công nhiệm vụ quản trị nhà trường 4.0

Một kế hoạch tốt cần một cơ cấu tổ chức thực thi hiệu quả. Hiệu trưởng cần ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT, với thành phần gồm ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn và các giáo viên cốt cán. Ban chỉ đạo này sẽ chịu trách nhiệm triển khai, giám sát và điều chỉnh kế hoạch. Việc phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng cá nhân, bộ phận sẽ giúp hoạt động quản trị nhà trường thời 4.0 diễn ra suôn sẻ. Đồng thời, cần xây dựng các quy chế, quy định cụ thể về việc sử dụng, bảo quản tài sản CNTT và các chính sách khen thưởng để khuyến khích giáo viên tích cực tham gia.

IV. Bí quyết lãnh đạo và kiểm tra việc ứng dụng CNTT hiệu quả

Sau khi có kế hoạch và tổ chức, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng trở nên vô cùng quan trọng. Lãnh đạo không chỉ là ra mệnh lệnh mà là quá trình truyền cảm hứng, động viên và hỗ trợ giáo viên vượt qua các rào cản tâm lý và kỹ thuật. Hiệu trưởng phải là người tiên phong, am hiểu về vai trò của CNTT và thường xuyên theo dõi, nắm bắt khó khăn của giáo viên để có sự hỗ trợ kịp thời. Hoạt động chỉ đạo cần cụ thể, chẳng hạn như yêu cầu thống nhất việc sử dụng phần mềm quản lí giáo dục, hay quy định tỉ lệ tiết dạy có sử dụng giáo án điện tử trong mỗi học kỳ. Song song đó, công tác kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên và khách quan. Việc xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá khoa học không chỉ giúp đo lường hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin mà còn là cơ sở để điều chỉnh kế hoạch và các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ CNTT cho giáo viên trong giai đoạn tiếp theo. Đây là khâu then chốt để đảm bảo chu trình quản lí được khép kín và liên tục cải tiến.

4.1. Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ CNTT cho giáo viên

Hoạt động chỉ đạo cần tập trung vào việc tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo chuyên đề thực chất và hiệu quả. Thay vì các buổi đào tạo đại trà, nhà trường nên tổ chức theo nhóm nhỏ, dựa trên nhu cầu và trình độ của giáo viên từng tổ chuyên môn. Nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ CNTT cho giáo viên cần đi sâu vào các ứng dụng Edtech trong giảng dạy cụ thể, giúp giáo viên có thể áp dụng ngay vào bài giảng của mình. Hiệu trưởng cần chỉ đạo đội ngũ cốt cán CNTT của trường trở thành những người hỗ trợ, tư vấn thường xuyên cho đồng nghiệp, tạo ra một môi trường học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm.

4.2. Xây dựng tiêu chí đánh giá tiết dạy và giáo án điện tử

Để việc kiểm tra không mang tính chủ quan, nhà trường cần xây dựng và ban hành bộ tiêu chí đánh giá cụ thể. Luận văn gốc chỉ ra rằng "HT chưa thực hiện tốt hoạt động xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hoạt động ứng dụng CNTT trong HĐD". Do đó, bộ tiêu chí này cần đánh giá cả về hình thức và nội dung của giáo án điện tử, cũng như mức độ tương tác, hiệu quả của tiết dạy có ứng dụng CNTT. Các tiêu chí có thể bao gồm: mức độ tích hợp công nghệ hợp lý, khả năng phát huy tính tích cực của học sinh, hiệu quả truyền tải kiến thức. Kết quả đánh giá phải được sử dụng để xếp loại thi đua và làm cơ sở cho các kế hoạch bồi dưỡng tiếp theo.

V. Kết quả thực tiễn từ việc quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học

Khi các biện pháp quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin sẽ được thể hiện rõ rệt. Thực tiễn cho thấy, các trường THPT tại Bình Phước áp dụng tốt mô hình quản lí này đã có những bước tiến vượt bậc. Chất lượng các tiết dạy được nâng cao, bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, từ đó kích thích sự hứng thú và chủ động của học sinh. Việc sử dụng các ứng dụng Edtech trong giảng dạy giúp giáo viên tiết kiệm thời gian trong khâu chuẩn bị và có thêm công cụ để đánh giá năng lực học sinh một cách đa dạng. Các mô hình lớp học thông minh bắt đầu được hình thành, nơi công nghệ trở thành một phần không thể thiếu trong mọi hoạt động. Sự tương quan tích cực giữa kỹ năng sử dụng CNTT của giáo viên và kết quả học tập của học sinh đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Do đó, đầu tư vào quản lí CNTT chính là đầu tư cho chất lượng giáo dục bền vững, góp phần hoàn thành mục tiêu đổi mới phương pháp dạy và học mà ngành giáo dục tỉnh nhà đang hướng tới.

5.1. Phân tích hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy

Hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ đo bằng số lượng tiết dạy có trình chiếu, mà còn ở sự thay đổi trong tư duy dạy và học. Giáo viên có kỹ năng CNTT tốt có thể khai thác kho tài nguyên học liệu mở trên Internet, làm phong phú bài giảng của mình. Học sinh được tiếp cận với các phương pháp học tập mới như học theo dự án, học tập kết hợp (blended learning). Kết quả khảo sát cho thấy "kĩ năng sử dụng CNTT của GV có ảnh hưởng đến kết quả đạt được của hoạt động ứng dụng CNTT trong HĐD". Điều này khẳng định việc đầu tư bồi dưỡng cho giáo viên là yếu tố quyết định đến sự thành công.

5.2. Mô hình lớp học thông minh và ứng dụng Edtech trong giảng dạy

Mô hình lớp học thông minh là đích đến của quá trình ứng dụng CNTT. Trong lớp học này, các thiết bị như bảng tương tác, máy tính bảng được kết nối với nhau, tạo ra một môi trường học tập tương tác cao. Giáo viên có thể sử dụng các ứng dụng Edtech trong giảng dạy để giao bài tập, tổ chức thảo luận nhóm, và theo dõi tiến độ học tập của từng học sinh theo thời gian thực. Mặc dù tại Bình Phước mô hình này chưa phổ biến, nhưng việc quản lí tốt và đầu tư có trọng điểm sẽ là tiền đề quan trọng để nhân rộng các lớp học thông minh trong tương lai.

VI. Tương lai của quản lí CNTT trong giáo dục THPT tỉnh Bình Phước

Tương lai của việc quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Phước gắn liền với lộ trình chuyển đổi số trong giáo dục quốc gia. Đây là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng từ các cấp quản lí và toàn thể đội ngũ giáo viên. Định hướng của Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Phước là tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, đồng thời đẩy mạnh các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu để nâng cao năng lực số cho giáo viên. Mục tiêu không chỉ là 100% giáo viên sử dụng thành thạo công nghệ, mà còn là sáng tạo trong việc tích hợp công nghệ vào giảng dạy. Việc áp dụng các phần mềm quản lí giáo dục hiện đại sẽ giúp công tác quản trị nhà trường thời 4.0 trở nên chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả hơn. Về lâu dài, việc quản lí tốt sẽ tạo ra một hệ sinh thái giáo dục số toàn diện, nơi mọi hoạt động từ giảng dạy, kiểm tra, đánh giá đến quản lí hồ sơ đều được số hóa, góp phần đưa giáo dục Bình Phước phát triển lên một tầm cao mới.

6.1. Định hướng từ Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Phước đến năm 2025

Theo định hướng phát triển CNTT của tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Phước đặt mục tiêu đến năm 2025 sẽ hoàn thiện cơ bản hệ thống hạ tầng số và cơ sở dữ liệu ngành. Các giải pháp quản lí CNTT trong nhà trường sẽ được chuẩn hóa và triển khai đồng bộ. Sở sẽ tăng cường tổ chức các cuộc thi về thiết kế bài giảng điện tử, ứng dụng E-learning để tạo động lực và sân chơi cho giáo viên. Đồng thời, chú trọng xây dựng kho học liệu số dùng chung cho toàn tỉnh, giúp giáo viên dễ dàng truy cập và chia sẻ tài nguyên chất lượng cao.

6.2. Lộ trình hoàn thiện chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục

Lộ trình chuyển đổi số trong giáo dục cần được thực hiện theo từng bước vững chắc. Giai đoạn đầu tập trung vào hoàn thiện hạ tầng và nâng cao nhận thức, kỹ năng cho đội ngũ. Giai đoạn tiếp theo sẽ đẩy mạnh việc xây dựng nội dung số, phát triển các ứng dụng Edtech phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới. Cuối cùng là hướng tới một môi trường giáo dục thông minh, nơi dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) được ứng dụng để phân tích và hỗ trợ quá trình dạy học. Quá trình này đòi hỏi một tầm nhìn chiến lược và sự quản lí quyết liệt, nhất quán từ cấp Sở đến từng nhà trường.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY TẠI NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan về các nghiên cứu ở nước ngoài Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, một số nước trên thế giới đã ứng dụng CNTT như là một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội.

Cùng với việc ứng dụng ngày càng rộng rãi CNTT, nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược ứng dụng CNTT, đặc biệt là ở các nước phát triển, mà một bộ phận quan trọng của chiến lược này là xác định cách thức đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường. Theo các tư liệu tổng hợp, đặc biệt là của UNESCO, hầu hết các nước đều đưa các kiến thức Tin học, kĩ năng cơ bản của CNTT vào giảng dạy ở trường phổ thông, thể hiện rõ hơn từ cấp Trung học cơ sở theo nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Cụ thể như: ở một số bang của Hoa Kỳ, Úc xem Tin học là một môn học riêng biệt và là môn học bắt buộc đối với mọi học sinh (HS); Pháp, Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc,… xem Tin học cũng là môn học riêng biệt nhưng học theo hình thức tự chọn. Đến thập niên 90 của thế kỷ XX, vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI.

Ngoài ra, UNESCO còn đưa ra Khung Chuẩn năng lực về CNTT và truyền thông cho giáo viên [45]. Để đánh giá tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục, một nghiên cứu của Schacter (1999) [44] đã kết luận rằng học sinh được tiếp cận với công nghệ phục vụ giảng dạy và học tập đều có tác động tích cực đối với thành quả học tập. Kết luận trên dựa vào cơ sở việc phân tích hơn 700 nghiên cứu về tác động của công nghệ giáo dục đến thành quả học tập của học sinh. Có nhiều nhóm tác giả đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học của GV, bao gồm: Sara Hennessy, David Harrison, and Leonard Wamakote (2010) [42] trong một 8 nghiên cứu ở Châu Phi đã chỉ ra rằng, ngoài các yếu tố bên ngoài thì kĩ năng và mức độ tự tin về trình độ công nghệ, nghiệp vụ sư phạm trong sử dụng công nghệ, vai trò của GV là những yếu tố quan trọng có tác động đến “lớp học có ứng dụng CNTT” (Classroom Use of ICT).

Nhóm tác giả gồm Cher Ping Lim, Ching Sing Chai, and Daniel Churchill (2010) [43] cũng đã chỉ ra rằng những phương tiện đánh giá từ các bài kiểm tra trình độ được chuẩn hóa đến hồ sơ bài dạy điện tử đã được sử dụng để đánh giá trình độ tích hợp CNTT phục vụ cho giảng dạy của các giáo sinh. Ngoài ra, “Teacher ICT skill” [41], một nghiên cứu của Sở Giáo dục Tây Úc cũng đã chỉ ra rằng năng lực sử dụng CNTT, nguồn lực của nhà trường về CNTT, thái độ và động lực của GV, chính sách và sự quan tâm của lãnh đạo là những yếu tố chủ yếu tác động đến mức độ ứng dụng CNTT của GV trong hoạt động dạy học. Như vậy, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm. Các nghiên cứu cũng đã khẳng định được tầm quan trọng và sự cấp thiết của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học.

Ngoài ra, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT của GV trong hoạt động dạy học, trong đó khẳng định yếu tố về trình độ sử dụng CNTT của GV và sự quan tâm của lãnh đạo về các hoạt động ứng dụng CNTT là những yếu tố mang tính quyết định đến hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học của GV. Tổng quan về các nghiên cứu ở trong nước Ở nước ta, việc ứng dụng CNTT trong GD - ĐT bước đầu cũng có thể xem là việc đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường. Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ngành giáo dục nhận thức được sự cần thiết phải trang bị cho thế hệ trẻ các kiến thức phổ thông về tin học. Đến năm 1985, những kiến thức nhập môn Tin học đã được triển khai dạy thí điểm ở một số địa phương.

Từ năm học 1990 - 1991, một số kiến thức tin học đã chính thức được đưa vào dạy trong chương trình của lớp 10 THPT. Từ năm học 1993 - 1994, Tin học đã 9 trở thành một môn học có giáo trình riêng. Bên cạnh đó, CNTT được đưa vào nhà trường với tư cách là công cụ hỗ trợ công tác quản lí như: quản lí HS, quản lí nhân sự, quản lí thư viện, quản lí kết quả học tập, xếp thời khoá biểu, trao đổi dữ liệu tuyển sinh giữa các trường cao đẳng, đại học. Hướng thứ ba của việc ứng dụng CNTT vào nhà trường là máy vi tính cùng với các phần mềm và Internet được sử dụng với tư cách là phương tiện dạy học mới.

Là ngành khoa học ra đời muộn, nhưng rõ ràng CNTT đã và đang phát triển với tốc độ rất nhanh. Nhận thức được vai trò to lớn của CNTT nên đã có nhiều tài liệu, công trình, báo cáo viết về ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng đối với giáo dục phổ thông. Các nhà giáo dục học cũng đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học như: Nguyễn Mạnh Cường (2003), Đổi mới phương pháp giảng dạy với sự hỗ trợ của máy tính niên giám khoa học 2002-2003, Viện nghiên cứu Giáo dục ĐHSP TP. Hồ Chí Minh [7]; Đào Thái Lai (2006), Ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THPT Việt Nam, Viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam [22]; Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2010), CNTT cho dạy học tích cực, NXB Giáo dục VN [28]; Mai Văn Trinh, Trương Thị Phương Chi (2016), Thiết kế bài dạy – tự học trên lớp với sự hỗ trợ của E-learning, Tạp chí Khoa học giáo dục số 124; Nguyễn Văn Sinh – Trần Mạnh Hà (2016), Ứng dụng CNTT trong dạy học, NXB Xây Dựng [31];.

Những nghiên cứu này đã đánh giá về tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học, và đồng thời xem các thiết bị về CNTT như là một phương tiện dạy học tích cực hỗ trợ hiệu quả cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học. Trong lĩnh vực quản lí, có nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu về khoa học quản lí nói chung và quản lí giáo dục nói riêng, điển hình như: Trần Kiểm (2006), Khoa học quản lí giáo dục, một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB ĐHSP [20]; Nguyễn Lộc (2010), Lí luận về quản lí, NXB ĐHSP [23]; Trần Kiểm (2011), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục, NXB ĐHSP 10 [19]; Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền (2015), Quản lí và lãnh đạo nhà trường, NXB ĐHSP [14]. Đây là những nghiên cứu rất sâu về khoa học quản lí, trong đó các nghiên cứu này đều đã chỉ ra được bốn chức năng cơ bản chung của hoạt động quản lí, bao gồm: chức năng lập kế hoạch; chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch; chức năng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; chức năng kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch. Tác giả Trần Thị Tuyết Mai và cộng sự (2013), Tài liệu học tập bồi dưỡng cán bộ quản lí trường phổ thông, Trường CBQLGD TP.HCM [25], tài liệu này đã đi sâu vào nghiên cứu hoạt động quản lí giáo dục trong nhà trường vừa đảm bảo tính hàn lâm khoa học, vừa mang tính thực tiễn ứng dụng với việc xây dựng các Mô-đun tập huấn, bồi dưỡng theo các nội dung quản lí ở các trường học, trong đó có hoạt động quản lí việc ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung và trong hoạt động dạy học nói riêng, tài liệu này được sử dụng cho việc tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ CBQL ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

Ngoài ra, chuyên sâu trong việc nghiên cứu ứng dụng CNTT trong học động dạy học, xét trên khía cạnh thời gian thực hiện có thể kể ra những nghiên cứu có liên quan như: Võ Minh Lợi (2010), Thực trạng quản lí việc ứng dụng CNTT vào dạy các môn khoa học tự nhiên ở một số trường THPT tại TP Cần Thơ, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM [24]; Trần Lê Duy Khiêm (2010), Thực trạng quản lí việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở một số trường THPT tại Thành phố Cần Thơ, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM [21]; Trần Minh Hùng (2012), Quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT, Luận án Tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội [16]; Triệu Thị Thu (2013), Quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại Trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Hà Nội, Luận án Tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội [38]; Nguyễn Văn Năm (2014), Quản lí ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trường THPT huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP – ĐH Thái Nguyên [26]; Phạm Văn Danh (2015), Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng BGĐT tại trường ĐHSP TP.HCM, Luận văn Thạc sĩ GDH, ĐHSPKT TP. Các nghiên cứu này đã góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống về cơ sở lí luận của hoạt động quản lí ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng, và cũng đã khẳng định được tầm quan trọng của hoạt động quản lí việc ứng dụng CNTT thông tin trong hoạt động dạy học. Như vậy, đến nay trong giáo dục có khá nhiều nghiên cứu về CNTT. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: dạy Tin học ở nhà trường THPT; ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lí nhà trường; ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học, tức là vẫn thiên về chức năng giáo dục học mà chưa chú trọng nghiên cứu về vấn đề quản lí việc ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung và trong hoạt động dạy học nói riêng.

Đặc biệt, chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về thực trạng quản lí ứng dụng CNTT trong HĐD ở cấp THPT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ