Chương I. Thiết lập quan hệ ngoại giao: Tình hình thế giới có nhiều chuyển biến, xuất hiện xu hướng hòa hoãn, đối thoại. Đối với Việt Nam, đây là giai đoạn bắt đầu triển khai chính sách đổi mới, mở cửa, phá thế bao vây cấm vận. Vấn đề Campuchia được giải quyết tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ đối ngoại, ta thiết lập quan hệ ngoại giao với EU.
- Chương II. Quan hệ Việt Nam - EU qua các thời kỳ: Quan hệ Việt Nam - EU các giai đoạn 1990 - 1995 và từ 1995 - 2010 trong bối cảnh tình hình thế giới, EU và Việt Nam có nhiều chuyển biến. Một số mốc quan trọng như Hiệp định khung 1995; EU ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO; đàm phán Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 6 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 PCA… Sự phát triển nhanh chóng, sâu rộng, toàn diện của quan hệ; những đóng góp thiết thực của quan hệ Việt Nam - EU đối với phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng như những tồn tại, thách thức trong vấn đề dân chủ nhân quyền, tranh chấp thương mại, dân chủ nhân quyền… - Chương III. Triển vọng quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2020: Dự báo xu hướng phát triển của tình hình quốc tế; triển vọng phát triển của EU và Việt Nam đến năm 2020; căn cứ các khuôn khổ pháp lý hai bên đã thiết lập; kết quả hợp tác đạt được trong 20 năm qua quan hệ và chiều hướng quan hệ để dự báo triển vọng quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2020.
Những thuận lợi, thách thức và kiến nghị giải pháp thúc đẩy quan hệ.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 7 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973. THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO 1. Tình hình thế giới và khu vực những năm 80 và đầu thập kỷ 90: Những năm 80 và đầu thập niên 90 tình hình thế giới có nhiều biến động lớn, phức tạp về mọi mặt kinh tế, chính trị, quan hệ quốc tế. Nhiều nhân tố mới xuất hiện tác động mạnh đến trật tự thế giới hai cực.
Trong giai đoạn này, thế và lực của Mỹ suy giảm tương đối trong khi Tây Âu và Nhật Bản vươn lên mạnh mẽ trở thành những trung tâm kinh tế lớn của thế giới, trực tiếp cạnh tranh với Mỹ. Trung Quốc bước vào giai đoạn mới cải cách, mở cửa kinh tế, tranh thủ đẩy mạnh quan hệ với Mỹ, Nhật và các nước phương Tây phục vụ các mục tiêu phát triển, hiện đại hóa của mình. Trong khi đó, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Liên Xô gặp nhiều khó khăn do những sai lầm chiến lược trong phát triển kinh tế và chạy đua vũ trang với Mỹ; công cuộc cải tổ do Gorbachev khởi xướng thất bại gây ra tình trạng hỗn loạn về chính trị và làm cho kinh tế Liên Xô ngày càng yếu kém hơn. Cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội tại Liên Xô tác động sâu sắc đến các nước XHCN Đông Âu khác.
Quan hệ giữa Liên Xô với các nước này xuất hiện mâu thuẫn, xu hướng tách khỏi Liên Xô tăng lên với sự ủng hộ rộng rãi của phần lớn dân chúng. Khủng hoảng về kinh tế, nội bộ khó khăn, chạy đua vũ trang ngày càng hao tiền tốn của trong khi kinh tế Nhật và phương Tây mạnh lên tạo sức ép cạnh tranh gay gắt khiến cả hai siêu cường Mỹ và Liên Xô buộc phải đẩy mạnh cải cách bên trong và điều chỉnh chiến lược quan hệ, nhân nhượng lẫn nhau và đi vào thỏa hiệp. Tình trạng đối đầu từng bước được thay thế bằng đối thoại. Xu thế hòa hoãn, đối thoại và hợp tác giữa hai siêu cường xuất hiện và ngày càng được củng cố, tác động tích cực đến các nước khác.
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh và những năm sau khi ta giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, các nước ASEAN thi hành chính sách hòa bình, trung lập, nghiêng về quan hệ với Mỹ, Nhật và phương Tây. Đông Nam Á bị chia thành hai nhóm nước đối đầu về chính trị: ASEAN và Đông Dương. ASEAN lo ngại sau khi Mỹ rút khỏi khu vực, Liên Xô và Trung Quốc sẽ nhảy Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 8 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 vào lấp khoảng trống, Chủ nghĩa Cộng sản sẽ có điều kiện lan rộng. Việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia năm 1979 càng làm tăng thêm lo ngại của ASEAN.
Mặc dù vẫn giữ cầu quan hệ ngoại giao, thương mại song ASEAN lên án, chỉ trích ta gay gắt trên các diễn đàn quốc tế. Tình hình Việt Nam, EU và quan hệ Việt Nam với một số nước Tây Âu: 1. Tình hình Việt Nam: Sau thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1975, một kỷ nguyên mới đã mở ra trên đất nước Việt Nam: hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước đi vào xây dựng CNXH. Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã giúp nâng cao uy tín và vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.
Việt Nam đứng trước một cơ hội mới để xây dựng và phát triển kinh tế với thuận lợi cơ bản là có hòa bình. Tuy nhiên, do xuất phát điểm của nền kinh tế quá thấp, hậu quả của chiến tranh còn nặng nề, cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp không còn phù hợp cản trở, hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc, đặc biệt là những sai lầm chủ quan nghiêm trọng trong xây dựng và quản lý kinh tế nên đất nước ta đã rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế9 và xã hội kéo dài, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn10. Đây cũng là giai đoạn đặc biệt khó khăn về đối ngoại. Ngay sau khi giải phóng miền Nam, đất nước ta đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam do Pol Pot với sự hậu thuẫn của Trung Quốc gây ra.
Đến tháng 2/1979, Trung Quốc lại gây ra cuộc chiến tranh biên giới, xua quân 9 Từ năm 1977 - 1980 thu nhập bình quân chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc độ tăng trưởng dân số. Toàn bộ quỹ tích lũy và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào viện trợ và vay nước ngoài. Thu từ vay nợ và viện trợ của nước ngoài chiếm 38,2% tổng thu ngân sách và bằng 61,9% tổng số thu trong nước, tương ứng thời kỳ 1981 - 1985 là 22,4% và 28,9%. Tính đến năm 1985, nợ nước ngoài lên đến 8,5 tỷ Rúp và 1,9 tỷ USD.
Sản xuất tăng chậm và thực chất không có phát triển, lạm phát ngầm diễn ra với mức độ ngày càng cao, sai lầm “giá-lương-tiền” 1985 khiến siêu lạm phát diễn ra vào năm 1986 với tốc độ phi mã, lên tới 774,7% và kéo dài cho tới những năm 1990, 1991. 10 Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 7/1986 đã chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm: “Trong những năm qua, do chúng ta mắc sai lầm chủ quan nóng vội, không tôn trọng, thậm chí làm trái quy luật khách quan, đồng thời lại bảo thủ, trì trệ nên đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp. Kết quả là sức sản xuất bị kìm hãm, không phát triển được; nhân dân lao động không phát huy được quyền làm chủ của mình trên thực tế; người ăn thì nhiều, người làm thì ít; năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng giảm sút; xã hội không có hoặc có rất ít sản phẩm, lưu thông ách tắc do tình trạng bị chia cắt thị trường, khiến cho nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn kéo dài, lạm phát triền miên, giá cả không ổn định, đời sống bấp bênh, các giá trị đạo đức, tinh thần bị xói mòn, tiêu cực phát triển”.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 9 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 đánh 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam. Vấn đề Campuchia chưa có giải pháp, ta rơi vào thế bị cô lập về ngoại giao, các nước ASEAN chỉ trích, lên án trong khi Mỹ và phương Tây bao vây cấm vận.
Trước tình hình trên, Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1981 1986 đã đề raxác định chính sách đối ngoại tranh thủ và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ cho xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trọng tâm là tranh thủ giúp đỡ về kinh tế và phá thế bao vây cấm vận của Mỹ và lực lượng thù địch. Đại hội cũng đã đề ra chính sách đổi mới, xóa bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển dần sang một nền kinh tế gắn liền hơn với thị trường. Về đối ngoại, một trong những nhiệm vụ hàng đầu Đại hội tiếp tục khẳng định là “tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc” đồng thời xác định rõ “mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”. Chính sách đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI khởi xướng đã mang lại những chuyển biến tích cực trên mọi lĩnh vực.
Về kinh tế, xã hội, từ chỗ phải nhập lương thực, Việt Nam đã sản xuất đủ tự cung cấp, có dự trữ và còn xuất khẩu gạo. Hàng hóa, nhất là hàng tiêu dùng nhiều và đa dạng hơn. Xuất khẩu tăng mạnh, thâm hụt thương mại giảm, lạm phát được kiềm chế dần dần. Về đối ngoại, mấu chốt để giải tỏa bế tắc trong quan hệ đối ngoại là giải quyết vấn đề Campuchia.
Bước ngoặt chính trị được đánh dấu vào tháng 8/1985 khi Hội nghị Ngoại trưởng ba nước Đông Dương đưa ra lập trường năm điểm làm cơ sở cho một giải pháp chính trị bao gồm toàn bộ vấn đề hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á và vấn đề Campuchia, trong đó có việc Việt Nam sẽ rút hết quân khỏi Campuchia vào năm 1990 và nếu có giải pháp thì rút sớm hơn. Đại hội Đảng lần thứ VI tuyên bố rút quân ra khỏi Campuchia đồng thời sẵn sàng cộng tác với tất cả các bên để đi đến giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia. Vấn đề Campuchia được giải quyết đã đóng góp quan trọng vào hòa bình, ổn định và hợp tác ở Đông Nam Á, giúp Việt Nam thoát khỏi bị cô lập trên trường quốc tế, có điều kiện tập trung sức xây dựng đất nước, tạo điều kiện thiết lập quan hệ ngoại giao với EU, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và Trung Quốc cũng như hội nhập vào ASEAN.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.