phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com C ƣơn 1 : Cơ sở của sự phát triển quan hệ văn óa Việt Nam - Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh Quan hệ văn hóa Việt Nam – Nhật Bản được duy trì, phát triển và có nền tảng vững chắc nhờ có những thuận lợi mang tính khách quan và chủ quan. Những yếu tố nội tại trong mỗi nước cũng như yếu tố khách quan từ bên ngoài là chất xúc tác đem đến những bước tiến dài trong quan hệ giữa hai nước nói chung và quan hệ văn hóa nói riêng giai đoạn 1992 – 2013. Cơ sở của sự phát triển đó trước hết là ở những đặc điểm nổi bật trong quan hệ hai nước: tuy có nguồn gốc từ rất sớm nhưng lại mang tính đứt đoạn, phức tạp, nhiều thăng trầm nhưng mối quan hệ này chưa từng bị chấm dứt hoàn toàn. Ngoài ra bối cảnh quốc tế và khu vực giai đoạn sau Chiến tranh lạnh với những xu thế mới đã đem lại nhiều thuận lợi, mở ra nhiều cơ hội cho việc hợp tác, giao lưu giữa hai nước.
Đặc biệt truyền thống hữu nghị giữa hai dân tộc và nhân dân hai nước với nhiều điểm tương đồng về văn hóa là cầu nối góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, củng cố mối quan hệ và tăng cường các hoạt động giao lưu văn hóa giữa Việt Nam – Nhật Bản. Hơn nữa hai nước lại có cùng lợi ích củng cố hòa bình và thúc đẩy hợp tác trong khu vực và trên thế giới cho nên cả Việt Nam và Nhật Bản đều giành cho nhau những ưu ái nhất định trong chính sách ngoại giao của mỗi nước. Đó là những yếu tố thuận lợi, tác động mạnh mẽ tới quan hệ Việt Nam – Nhật Bản nói chung và quan hệ văn hóa Việt Nam – Nhật Bản nói riêng. C ƣơn 2: Thực trạng quan hệ văn óa Việt Nam – Nhật Bản iai đoạn 1992 – 2013 Chặng đường 40 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản đã đã đạt được những bước tiến đáng ghi nhận.
Có thể nói giai đoạn từ năm 1992 đến nay là giai đoạn sôi nổi nhất và đạt được nhiều thành tựu nhất trong chặng đường quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản. Trong giai đoạn này, với sự nỗ lực của cả hai quốc gia, mối quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đều phát triển vượt bậc. Quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản tuy không diễn ra sôi động như trong lĩnh vực kinh tế, nhưng tầm quan trọng của nó ngày càng được xác định rõ và chủ yếu diễn ra trong các lĩnh 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vực: Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển các hoạt động văn hóa, giáo dục; Giao lưu văn hóa, nghệ thuật giữa hai nước; Đào tạo tiếng Nhật Bản tại Việt Nam và tiếng Việt Nam tại Nhật Bản; Trao đổi học thuật, phát triển ngành nghiên cứu Nhật Bản tại Việt Nam và nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản và cuối cùng là hoạt động tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước. Ở lĩnh vực nào chính phủ Việt Nam – Nhật Bản cũng đều chú trọng và tích cực đẩy mạnh, nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ nhân dân hai nước.
C ƣơn 3: Triển vọng quan hệ văn óa Việt Nam – Nhật Bản và kiến nghị c ín sác t úc đẩy hợp tác văn óa. Tuy còn có một số trở ngại và khó khăn, song trong mối quan hệ văn hóa Việt Nam - Nhật Bản thì mặt thuận lợi dường như vẫn chiếm ưu thế. Việt Nam chúng ta luôn coi trọng hòa bình, độc lập, phát triển và tích cực hội nhập quốc tế, khu vực là lợi ích của nước Nhật Bản; nước ta cũng luôn khẳng định chính sách lâu dài đó là không ngừng củng cố phát triển và mở rộng quan hệ văn hóa với Nhật Bản Chính phủ Nhật Bản cũng đã tỏ rõ sự coi trọng quan hệ với Việt Nam, ủng hộ đường lối và chính sách của Việt Nam. Mặc dù cả hai bên ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác văn hóa giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản, hai nước vẫn cần có những chính sách cụ thể trong việc phát triển quan hệ văn hóa và cần tăng cường hiểu biết lẫn nhau bằng các cam kết, các hiệp định và các hoạt động giao lưu trao đổi.
Đối với Việt Nam, để có thể phát triển đất nước, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì việc tranh thủ nguồn vốn, kinh nghiệm và sự ủng hộ từ bên ngoài trong đó có Nhật Bản là điều rất quan trọng. Đồng thời cả Việt Nam và Nhật Bản nên khai thác tốt được tiềm năng của mỗi nước, từ đó thúc đẩy được quan hệ hợp tác và đưa mối quan hệ lên tầm cao hơn như mong muốn của Chính phủ và nhân dân hai nước. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ của Chính phủ và nhân dân hai nước, trong tương lai quan hệ Việt Nam – Nhật Bản nói chung và quan hệ văn hóa Việt Nam – Nhật Bản nói riêng sẽ ngày một phát triển, bền vững, sáng tạo và đạt được nhiều thành công hơn nữa 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I CƠ SỞ CỦA SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VĂN HÓA VIỆT NAM - NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH LẠNH 1. Khái quát về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trƣớc năm 1992 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản cho đến trước khi bình thường hóa vào năm 1992 đã trải qua một thời gian dài đầy thăng trầm, gắn liền với những biến đổi lịch sử của hai nước qua từng giai đoạn khác nhau và mang những đặc trưng sau đây: Thứ nhất, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã có từ rất lâu đời.
Có thể coi quan hệ Nhật - Việt bắt đầu từ thế kỷ thứ XV [74] được đánh dấu bằng việc buôn bán giữa hai nước thông qua những thuyền buôn đến từ Nhật Bản. Nhưng sự xuất hiện của người Nhật ở Việt Nam và người Việt ở Nhật Bản thì sớm hơn rất nhiều. Theo những tư liệu lịch sử của Nhật Bản, người Việt Nam đầu tiên đã có mặt tại Nhật Bản là một phái đoàn các nhà sư Việt Nam sang Nhật Bản dự lễ khánh thành bức tượng Phật tại chùa Todaiji của cố đô Nara năm 752. Và người Nhật Bản đầu tiên có mặt ở Việt Nam là ông Nakamaro Abe - một người đã sang học tập tại Trung Quốc đời Đường với tư cách là sứ giả sang nhà Đường, ông được triều đình Trung Quốc cử sang Việt Nam làm Tiết độ sứ và đã có công trong việc hòa giải tranh chấp giữa các dân tộc thiểu số ở vùng biên giới với Vân Nam.
Tuy nhiên quan hệ Việt – Nhật chính thức bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, khi Mạc Phủ bắt đầu cấp giấy phép cho tàu buôn Nhật ra nước ngoài. Giai đoạn 1604-1634 là giai đoạn Chính phủ Nhật Bản thúc đẩy buôn bán với nước ngoài, nhất là với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam trở thành một trong những bạn hàng lớn của Nhật Bản lúc bấy giờ và vai trò của các thương nhân Nhật Bản rất quan trọng, góp phần gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thương nơi các khu vực họ lui tới buôn bán. Họ đã đến nhiều địa điểm ở Việt Nam, nhất là những vùng ven biển khắp từ Bắc chí Nam.
Họ đã mở phố buôn bán hàng hóa tại nhiều địa điểm từ Nghệ An trở ra. Phố Hiến trở thành trung tâm ngoại thương lớn nhất ở Đàng Ngoài. Còn ở Đàng Trong, Hội An được xem là chiếc cầu nối liền giữa hai dân tộc với những dấu ấn đậm nét như chiếc cầu Nhật Bản hay những trung tâm buôn bán sầm uất cùng với nhiều công trình xây dựng. Mặc dù vậy quan hệ giao lưu giữa hai nước vào giai đoạn này diễn ra khá ngắn ngủi.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, quan hệ Việt Nam – Nhật Bản phát triển mang tính đứt đoạn. Vào đến giữa thế kỷ XVII, chế độ phong kiến ở Việt Nam đã bắt đầu suy thoái, chiến tranh và nội chiến liên miên. Trong khi đó, Nhật bắt đầu thi hành “Quốc sách biệt lập”, đóng cửa chặt chẽ với bên ngoài. Do đó, quan hệ giao lưu giữa hai nước bị ngưng trệ trong một thời gian dài.
Cho đến sau thế kỷ XIX, khi Nhật Bản khởi đầu công cuộc Minh Trị Duy Tân, cũng là lúc thực dân Pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam bị ách thống trị của thực dân Pháp nhiều sĩ phu yêu nước Việt Nam hy vọng rằng có thể dựa vào Nhật để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Phong trào Đông Du do nhà yêu nước Phan Bội Châu khởi xướng và lãnh đạo từ những thập niên đầu thế kỷ XX, đã đưa nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam sang Nhật Bản để học tập. Vào thời điểm cuối năm 1908, số lượng học sinh ở Nhật Bản đã lên đến gần 200 người [71].
Đông Kinh Nghĩa Thục đã được ra đời ở Việt Nam như là một nhịp cầu văn hóa đặc sắc và ấn tượng. Phong trào Đông Du cùng những hoạt động sôi nổi và những tác phẩm tràn đầy nhiệt huyết của Phan Bội Châu kết hợp với phong trào Duy Tân, hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục ở trong nước thực sự đã làm thức tỉnh nhân dân cả nước, tạo ra những chuyển biến mới trong nhận thức tư tưởng và hình thái đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam chuyển hướng mạnh mẽ từ hệ tư tưởng phong kiến sang tư tưởng dân chủ và làm dấy lên sức mạnh của dân tộc, kết hợp với tư tưởng tiên tiến của thời đại lúc bấy giờ. Tuy nhiên sau đó, Pháp và Nhật đã câu kết với nhau.
Giới cầm quyền Nhật Bản đã đàn áp phong trào Đông Du nhằm đổi lấy quyền lợi mà Pháp giành cho Nhật ở Đông Dương. Đến năm 1909, phong trào Đông Du chấm dứt và những năm sau đó quan hệ giữa hai nước trở nên rất mờ nhạt. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi mở cửa quan hệ trở lại với thế giới, nước Nhật lại theo đuổi chính sách bành trướng, biến các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam thành thuộc địa của mình.