CHƯƠNG 1: Các nhân tố cơ bản tác động đến quan hệ Myanmar - Trung Quốc (2016 — 2021) Chương này làm rõ những nhân tố bên ngoài và bên trong tác động đến quan hệ Myanmar - Trung Quốc giai đoạn 2016 - 2021, trình bày khái quát về quá trình phát triển của mối quan hệ giữa hai nước trước năm 2016 để từ đó có cái nhìn tổng thé xuyên suốt những thăng tram của quan hệ hai nước, tạo tiền đề cho mối quan hệ song phương giữa Myanmar và Trung Quốc trong giai đoạn 2016 - 2021. CHUONG 2: Thực trạng quan hệ Myanmar - Trung Quốc (2016 — 2021) Chương này phân tích về thực trạng và nhận xét về quan hệ giữa Myanmar và Trung Quốc trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng, thương mại - đầu tư, văn hóa - giáo dục trong giai đoạn 2016 - 2021. Đây cũng là chương chính của luận văn. CHƯƠNG 3: Dự báo, tác động và khuyến nghị đối với Việt Nam Chương này dự báo về quan hệ Myammar - Trung Quốc trên lĩnh vực chính tri - ngoại giao, an ninh - quốc phòng, thương mại - đầu tư, văn hóa - giáo dục, đánh giá về cơ hội, thách thức; thuận lợi và khó khăn trong quan hệ hai nước và rút ra một sô khuyên nghị đôi với Việt Nam trong quan hệ với Myanmar và Trung Quoc.
CÁC NHÂN TO CƠ BAN TÁC ĐỘNG DEN QUAN HE MYANMAR - TRUNG QUOC (2016 — 2021) Quan hệ Myanmar - Trung Quốc giai đoạn 2016 - 2021 chịu sự tác động tổng hợp của các nhân tố nội sinh và ngoại sinh, cụ thể bao gồm các nhân tô ở cấp độ hệ thống (thé gidi, khu vuc), cap độ quốc gia và cấp độ cá nhân (lãnh đạo). Do vay, đặt mối quan hệ này trong hệ thống quan hệ quốc tế đương đại, có thé thay rõ các nhân tố quốc tế, khu vực đã có tác động không nhỏ, đây là những nhân tố ngoại sinh. Về nội sinh, tình hình nội bộ của Trung Quốc và Myanmar, đặc biệt là sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Myanmar đưới thời Cố van Nhà nước Myanmar Aung San Suu Kyi sau khi dang NLD lên cam quyền (tháng 3/2016) va Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đóng vai trò quan trọng hàng đầu tác động đến quan hệ hai nước trong giai đoạn này. Ngoài ra, quan hệ Myanmar - Trung Quốc luôn có tính tiếp nối, nên lich sử quan hệ hai nước trước năm 2016 cũng là một nhân tố nội sinh có tác động quan trọng.
Các nhân tố ngoại sinh 1. Những chuyển động trong môi trường an ninh và kinh té thế giới 1. Các vấn dé an ninh thé giới Những chuyên động trong môi trường an ninh thế giới báo hiệu thời kỳ quá độ sang một trật tự mới với những điều chỉnh sâu sắc trong cục diện thế giới. Việc ông Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ vào tháng 12/2016 và thực hiện chính sách “nước Mỹ trên hết” nhăm đưa “nước Mỹ vĩ đại trở lại” đã làm cho tình hình thé giới có nhiều thay đổi, khó đoán định.
Theo đó, một cục diện “lưỡng siêu đa cường” đang hình thành, trong đó, cạnh tranh chiến lược toàn diện giữa Mỹ và Trung Quốc bộc lộ ngày càng rõ nét. Đáng chú ý, cạnh tranh chiến lược giữa một cường quốc tại vị (Mỹ) và một cường quốc đang lên (Trung Quốc) gia tăng rõ rệt cả về quy mô và mức độ với những mâu thuẫn lợi ích chiến lược ngày càng gay gắt. Điều này tác động sâu sắc tới quan hệ quốc tế. Mỹ dần công khai xác định Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh chiến lược hàng đầu (xếp trên cả Nga) và tăng cường sức ép cả về kinh tế, khoa học công nghệ và quân sự đối với Trung Quốc.
Tuy nhiên, Trung Quôc vân quyêt không lùi bước trên con đường hiện thực hóa “Giâc mộng 14 Trung Hoa”. Chiến tranh thương mại Trung - Mỹ và sự cạnh tranh giữa Chiến lược “An Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP) của Mỹ với Chiến lược “Vành đai và Con đường” (BRI) của Trung Quốc là những biểu hiện rõ nhất của cạnh tranh Trung - Mỹ [Học viện Ngoại giao Việt Nam, 2018, tr. Bên cạnh xu hướng hòa bình, hòa hợp dân tộc và hợp tác thì xung đột và chạy đua vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đỗ, khủng bó, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên và cạnh tranh kinh tế vẫn diễn ra gay gắt. Các van dé toàn cầu, an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống diễn biến ngày càng phức tạp.
Các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh gay gắt, chi phối va làm phức tạp hơn các quan hệ quốc tế [Đinh Thế Huynh, 2015, tr. Độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia của các nước trên thế giới nói chung, các nước dang phát triển nói riêng dang bị tham vọng của các cường quốc de doa. Chính trị của các nước đang phát triển diễn ra hết sức phức tạp, thường rơi vào thế bị động và chịu nhiều thua thiệt trong quan hệ quốc tế. Thế giới hiện nay đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu đe dọa đến sự sống và sự phát triển bền vững của nhân loại, không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết được nếu không có sự hợp tác đa phương.
Tính chất nghiêm trọng và phức tạp của những vấn đề toàn cầu đang đòi hỏi Trung Quốc và Myanmar tăng cường quan hệ hợp tác với nhau và đóng góp tích cực hơn nữa trong phối hợp, hợp tác hành động một cách hiệu quả, thiết thực để đối phó với những vấn đề toàn cầu. Những chuyển động trong môi trường kinh tế thế giới Toàn cầu hóa đã giúp các nước đang phát triển có cơ hội để phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia và đấu tranh giành vị thế trong hệ thống phân công lao động quốc tế, từng bước vươn lên giành độc lập về kinh tế, củng có độc lập về chính trị [Nguyễn Phương Nga, 2008, tr. Tuy nhiên, Toàn cầu hóa cũng làm thay đổi các thể chế và cơ chế chính trị quốc gia, tan công vào chủ quyền quốc gia, làm xói mòn nền văn hóa và truyền thống dân tộc, đe dọa sự ôn định về kinh tế và xã hội [Robert J. Tính độc lập của mỗi quốc gia bị thách thức bởi sự gia tăng tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, làm hạn chê thâm quyên và khả năng hành xử theo ý chí riêng của từng nước.
Các nước 15 không thé tự quyết được cơ cấu sản xuất. Nền tài chính của nhiều nước dễ bị lũng đoạn, sẽ dẫn đến sự đồ vỡ hoặc mat đi nhiều ngành sản xuất, sự phá sản của hàng loạt các xí nghiệp yếu kém của các nước đang phát triển kéo theo nó nạn thất nghiệp và hàng loạt các vấn đề tiêu cực xã hội nảy sinh khác [Phan Thanh Hà, 2010]. Ngoài ra, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội, làm thay đôi cơ bản lực lượng sản xuất và quan hệ quốc tế. Cuộc cách mạng này giúp các nước nghèo, lạc hậu có những bước bứt phá, giảm tụt hậu so với các nước công nghiệp tiên tiến; tuy nhiên, nó cũng làm gia tăng nạn thất nghiệp, khoảng cách giàu - nghèo, sự tụt hậu về mức sống và trình độ phát triển, tính phụ thuộc và sự đan xen lợi ích giữa các quốc gia.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 - 2009 đã bộc lộ những giới hạn về nguồn lực của Mỹ với vai trò là siêu cường số 1 thé giới, phản ánh sự suy yếu tương đối của Mỹ trong tương quan với các nền kinh tế lớn khác. Tuy nhiên, đối với Trung Quốc, cuộc khủng hoảng và suy thoái này lại là cơ hội để gia tăng ảnh hưởng, do Trung Quốc đã tích lũy được nguồn dự trữ ngoại hối không lồ, có thể đảm bảo cho nền kinh tế Trung Quốc đứng vững trước khủng hoảng, đồng thời “cứu trợ” các nền kinh tế khác gặp khó khăn, tạo lợi thế rất lớn cho Trung Quốc trong quan hệ với các nước nhận hỗ trợ. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đã làm thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu. Trọng tâm sức mạnh kinh tế và chiến lược của thế giới từng bước dịch chuyền từ Tây sang Đông, từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương.
Trên thé giới đã xuất hiện những trung tâm quyên lực mới, xu hướng đa cực với sự chỉ phối của các nước lớn ngày càng thê hiện rõ trong trật tự quốc tế, thay thế cho cục diện hai cực trước đây. Do đó, Trung Quốc cần tận dụng ưu thế kinh tế của minh dé mở rộng ảnh hưởng ở Myanmar thông qua việc hợp tác kinh tế với Myanmar và đầu tư vào Myanmar, bên cạnh đó, Myanmar cũng cần vốn đầu tư từ Trung Quốc đề phát triển kinh tế. Điều này đã tạo cơ hội cho Myanmar và Trung Quốc cùng nhau hợp tác dé phát triển kinh tế. Như vậy, sự phát triển các vấn đề an ninh phi truyền thống như khủng bó, đại dịch Covid-19 và một số van dé kinh tế khác đã tạo cơ hội cho Myanmar và Trung Quốc cùng nhau hợp tác dé vừa giúp đảm bảo lợi ích an ninh quốc gia, vừa dé đối phó với những thách thức an ninh tiềm tàng.
Những nhân tổ trong khu vực Năm 2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump tới thăm một loạt nước châu Á, trong đó có An Độ và mang theo thông điệp “An Độ Dương - Thái Binh Dương tự do và rộng mở”. Tuy nhiên, An Độ Dương - Thái Binh Dương là khu vực có tôn giáo, dân tộc đa dạng, do đó, tiềm ân nhiều mâu thuẫn, bùng phát chiến tranh, ảnh hưởng đến tình hình an ninh khu vực và quốc tế. Nơi đây tập trung các “điểm nóng”, cạnh tranh giữa các nước lớn gây nên nhiều biến động trong khu vực, xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng mới cùng với trạng thái đan xen lợi ích rất phức tap. Đặc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các nước ở khu vực An Độ Dương - Thái Bình Dương hiện nay là: vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau.
Với vị trí chiến lược quan trọng tại khu vực châu Á, Đông Nam Á ngày càng thu hút sự quan tâm của các nước lớn. Đông Nam Á là giao điểm của hai trong số những tuyến đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới kết nối lục địa châu A với châu Đại Dương theo hướng Bắc - Nam và An Độ Dương với Thái Bình Dương theo hướng Đông — Tây.