Chương 1: CƠ SỞ CUA QUAN HỆ KINH TE VIỆT NAM - HOA Ki SAU NĂM 1995 Chương 2: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KÌ GIAI DOAN 1995 — 2008 Chương 3: QUAN HỆ ĐÀU TƯ VIỆT NAM - HOA KỈ GIAI ĐOẠN 1995 — 2008 Trang 10 Quan hệ kinh tế Việt Nam ~ Hoa Kì, 1995 — 2008 CHUONG 1: CO SO CUA QUAN HỆ KINH TE VIET NAM — HOA Ki SAU NAM 1995 1. Khái quát quan hệ Việt Nam — Hoa Ki trước nim 1995 1. Quan hệ Việt Nam — Hoa Ki giai đoạn đầu thế ki XIX — 1975 1. Quan hệ Việt Nam — Hoa Ki những trang sử đầu tiên (từ đầu thế ki XIX đến năm 1884).
Khi tìm hiểu lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước Phương Tây, chúng ta thường tự hỏi rằng: Người Phương Tây đến Việt Nam từ lúc nào? Ở Việt Nam, trong thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh, vào năm 1523 người Bo Đào Nha đã cập cảng ở Đàng Trong và xin đặt quan hệ thông thương. Như vậy, đầu thé ki XVII, Việt Nam và Phương Tây đã phát triển buôn bán ở Dang Trong. Năm 1613, người Ha Lan cũng đã đến Dang Trong buôn bán. Năm 1637, đặt thương điểm ở Dang Ngoài.
Cùng năm đó, năm 1913, người Anh cũng đã đến Dang Trong, và năm 1672 lập thương diém ở Phố Hiến. Trước đó, vào đầu thé ki XVII, người Pháp đã đến Việt Nam theo con đường truyền đạo. Và đến năm 1681 mới lập thương diém ở Dang Ngoài. Ngoài ra, người Tây Ban Nha, Italy cũng đến Việt Nam để truyền đạo và họ không giam gia vào các mối quan hệ kinh tế với Việt Nam, Còn quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kì thì như thế nào? Đâu là cuộc tiếp xúc đâu tiên? Dé trả lời câu hỏi này, chúng ta sẽ phải đọc lại câu chuyện trong lịch sử giữa Ngài Thomas Jefferson đến Pháp làm Đại Sứ từ năm 1784 vả Con trai đầu tiên của Nguyễn Anh - Hoàng Tử Cảnh đang được gửi làm con tin tại Pháp.
Thomas Jefferson (1743-1826) là người Mỹ đầu tiên quan tâm đến Việt Nam, với mục đích là tìm kiếm giống lúc cạn ở Nam Ki. Thomas Jefferson đã Trang 11 Quan hệ kinh tế Việt Nam — Hoa Kì, 1995 — 2008 hội kiến với Hoàng Tử Cảnh (1779-1801) tai Paris để tìm kiếm một cơ sở hợp tác. Nhưng đến năm 1789 Jefferson đã hết nhiệm kì tại Pháp và Ông đã rời nước Pháp. Ở Pháp lúc này đang diễn ra cuộc cách mạng tư sản Pháp, và Hoàng Tử Cảnh cũng đã về nước không còn mối liên lạc giữa Việt Nam với Hoa Ki.
Trên đây chỉ mới là sự tiếp xúc Việt-Mỹ đầu tiên. Kế đến trong chuỗi phát triển của mỗi quan hệ là việc những người Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.1803, tau buôn Mỹ “Fame” do thuyền trưởng Jeremiah chỉ huy đã cập cảng Đà Nẵng, với mục tiêu tìm kiếm nguồn hàng, đường và cả phê. Briggs ra Huế, được Gia Long cấp phép cho buôn bán.1803 rời Việt Nam đi Manila (Philippines). Briggs cho rằng “nhà vua (Gia Long) nghỉ ngờ người Mỹ đến buôn bán với kẻ thù của nhà vua”.
Briggs — được xem như là người Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Vào cuối thời Gia Long, một số tàu buôn của Mỹ xuất hiện ở Việt Nam : Beverly, Aurona, Marmion, Franklin. Tháng 6 năm 1819, tàu Franklin do John White chỉ huy đã đến Vũng Tàu, rồi đến Sai Gòn, Đà Nang dé tìm cơ hội phát triển buôn bán với Việt Nam. White xuất bản tập sách “A History of a voyage to the China Sea” (một chuyên du hành đến biên Trung Hoa) năm 1823, mô ta lại chuyến đi đến Việt Nam.
Thông qua những sự kiện này, câu hỏi cần được trả lời, đó là: tại sao Hoa Ki không the buôn bán với Việt Nam? Câu trả lời rất đơn giản, một trong những nguyên nhân chính yếu nhất: vì chế độ phong kiến Việt Nam và các quan lại là một trở ngại lớn. Bên cạnh mỗi quan hệ về kinh tế, thì trong thời ki này, những phái đoàn ngoại giao đầu tiên của Mỹ cũng đã đến Việt Nam. Từ năm 1826 — 1831, John Shillaber — lãnh sự Mỹ ở Batava (Indonesia) đã gửi thư cho Bộ ngoại giao Mỹ tiễn hành các hoạt động mở cửa thị trường Phương Đông. Cuối năm 1832, một phải đoàn của Mỹ được phái đi do Đặc viên Edmund Roberts dẫn đầu đến Việt Nam thương thuyết kí hiệp định thương mại.
Nhưng nhiệm vụ không thành. Tháng 5 năm 1863 phái đoàn Mỹ do Edmund Roberts dẫn đầu đến Việt Nam lần Trang 12 Quan hệ kinh tế Việt Nam — Hoa Ki, 1995 — 2008 thứ hai để tiếp tục nhiệm vụ được giao. Nhiệm vụ cũng không thành. Đây là một cơ hội bị bỏ lỡ trong quan hệ Việt Nam — Hoa Ki.
Tỏng thống Bill Clinton từng nói rằng: “cách đây gần 200 năm, vao thời khời điểm của mối quan hệ Hoa Kì - Việt Nam, hai quốc gia chúng ta đã cỗ gắng nhiều dé đàm phán một hiệp định thương mại, tương tự Hiệp định thương mại mà chúng ta đã ký hôm nay. Nhưng cách đây 200 năm, những cuộc đàm phán này đều thất bại.những nỗ lực này thất bại vì hai nền văn hóa xa lạ đã cùng lên tiếng mà không chịu lắng nghe nhau và tầm quan trọng của bên nảy đối với bên kia không đủ thuyết phục để vượt qua những trở ngại này”. Sau khi nắm quyền, Thiệu Trị (1841-1847) rồi Tự Đức (1847-1883) đã thực hiện chính sách “không Phương Tây”.1845, tàu chiến Mỹ USS Constitution do John Percival chỉ huy đã bắn vào hệ thống phòng thủ ở Đà Nẵng. Đây được xem là “Hanh động can thiệp quân sự đầu tiên chống Việt Nam của một chiến hạm Hoa Kì”.
Năm 1849, Tổng thống Mỹ Zachary Taylor đã gửi thư xin lỗi Việt Nam, cứ Joseph Balestier sang đặt quan hệ ngoại giao năm 1850. Nhưng cũng không thành công. Mặt khác, về phía những người Việt dau tiên tới Mỹ, chúng ta phải kế đến Bùi Viện. Tháng 7 năm 1873, Boi Viện (1839-1878) được vua Tự Đức cử sang Mỹ đề tìm kiếm sự hỗ trợ từ người Mỹ.
Bùi Viện đến Hongkong, Nhật Bản, rồi từ đó sang Mỹ, tiếp kiến Ulysses Grant (1822-1885). Nhưng nhiệm vụ không thành, do Bùi Viện không có mang theo Quốc thư. Đến năm 1875, Bùi Viện mang Quốc thư trở lại Mỹ thì tình hình đã thay đôi, phía Mỹ từ chối giúp đỡ Việt Nam. Liệu có việc Bùi Viện sang Mỹ hay không? Nhưng trong văn khó của Mỹ vẫn chưa được tìm thấy có nhắc đến Bùi Viện, mà sự việc nảy chỉ được đề cập tir phía Việt Nam.
Nhưng có một người Việt đã được tài liệu Mỹ ghi nhận, đó là Trần Trọng Kiêm (Quê ở Phú Thọ), sinh năm 1821, còn gọi là Lê Kim (từ khi sang Mỹ). Năm 1847, ông theo các tàu buôn người Hoa sang Mỹ và định cư tại đây. Sau đó ông chuyển sang thành phố San Francisco bang California và có thời gian dài làm báo trong nhiều toàn soạn ở đây. Năm 1854, ông quay về Việt Trang 13 Quan hệ kinh tế Việt Nam — Hoa Kì, 1995 ~ 2008 Nam sinh sống.
Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Ky, ông tham gia vào lực lượng kháng Pháp của Võ Duy Dương và hy sinh nam 1866. Quan hệ Việt Nam — Hoa Ki (1884-1939) ® Vai trò trung gian của Hoa Ki trong quan hệ Pháp — Trung về vấn đề Bắc Kỳ (nửa sau thé ki XIX) Khi Pháp tiến hành xâm lược Bắc Kỳ - Hiệp ước Giáp Tuất (1874) nhà Thanh (Trung Quốc) đã cho rằng Pháp vi phạm “quyển tôn chủ” của Trung Quốc đối với Việt Nam. Khi Pháp tiến hành đánh Bắc Ki lần thir hai (1882), nhà Thanh đã phản đối và cho quân xâm nhập vào Bắc Kỳ. Mỹ lo sợ cuộc xung đột giữa Pháp và Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi ở Trung Quốc nên đã tích cực đứng ra làm trung gian hoa giải.
Sau Hiệp ước Harmand (1 883) va Patenôtre (1884), xung đột giữa Pháp và nhà Thanh càng cao dẫn đến xung đột vào tháng 8. Hoa Kì (Đại sứ tại Bắc Kinh J. Young) xúc tiến mạnh mẽ các nỗ lực nhằm hoa giải xung đột Trung — Pháp, cỗ gắng giữ quan hệ tốt với cả hai nước. Tuy nhiên, sau nhiều nỗ lực ngoại giao của hai bên Trung Quốc và Pháp, ngày 9.1885, Hiệp ước Thiên Tân được ký kết.
Trung Quốc thừa nhận quyền thống trị của Pháp ở Việt Nam. Vai trỏ trung gian “hoả giải” của Hoa Kì đã không thành công. * Những cơ sở kinh tế - chính trị của Hoa Kì ở Việt Nam cuối thế ki XIX — đầu thé ki XX Từ cuối thế ki XIX, các lãnh sự Mỹ tại Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Bangkok đã có các báo cáo đề nghị chính phủ Mỹ thiết lập lãnh sự quan Mỹ tại Sai Gon (1870).1871, Sewell — lãnh sự Mỹ tại Singapore đã gửi báo cáo ước tính sẽ có khoảng 30 tàu buôn Mỹ cập cảng Sai Gon, mỗi nam trong thập niên 80, the ki XIX, số lượng ngày càng tăng.1888, bộ ngoại giao Mỹ đã đồng ý mở một cơ quan đại diện thương mại Mỹ tại Sài Gòn, bổ nhiệm Aimée Fonsales làm đại diện thương mại. Bộ ngoại giao Mỹ đã ký hợp đồng với công ty Denis Frères, một công ty bảo hiểm va thương mại hang Trang 14 Quan hệ kinh tế Việt Nam — Hoa Ki, 1995 — 2008 đầu cúa Pháp ở Đông Dương, để giám sát các quyền lợi về lãnh sự và thương mại của Mỹ ở Đông Nam Á.1907, chính phủ Mỹ đã cử Jocob Elon Conner làm viên chức lãnh sự và thương mại Mỹ đầu tiên ở Việt Nam.
Các tài liệu lưu trữ sau đó cho thấy J. Conner đã gặp không ít khó khăn khi tìm cách tăng số lượng và phạm vi các sản phẩm của Mỹ tới Việt Nam. Các tàu buôn Mỹ không gặp thuận lợi trong buôn bán vì bị đánh thuế cao. Thông tin về Sài Gòn lúc đó cũng còn rat hạn ché.
đến năm 1940, Mỹ mới đặt lãnh sự quán thứ hai tại Hà Nội. « Quan hệ kinh tế Việt Nam thuộc Pháp đầu thế ki XX Năm 1921, Ban nghiên cứu thuộc địa Pháp đã cử một đoàn gồm 150 nhà kinh doanh và kỹ sư Mỹ sang Đông Dương dé nghiên cứu khả năng đầu tư. Cuối thập niên 20, thế ki XX, đường hang hải trực tiếp Sài Gòn — San Francisco được khánh thành. Sự kiện quan trọng đánh dấu mối quan hệ thương mại giữa Hoa Ki và Việt Nam thuộc Pháp.
Tính đến trước chiến tranh thé giới thứ 2, tỷ trọng của Mỹ trong quan hệ buôn bán và hoạt động ngoại thương của Đông Dương (Việt Nam chiếm 9/10) như sau: 1925-1929: 2,6%; 1930-1934: 2,3%; 1935-1939: 6,6%. Trong đó, mặt hàng cao su xuất sang Mỹ chiếm 94%.