TMĐT HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐƠN VỊ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI ******** THUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP HỌC VIỆN NĂM 2023 TÊN ĐỀ TÀI Ảnh hưởng của mối quan hệ đồng nghiệp đến sự hài lòng với công việc của nữ công chức, viên chức (Nghiên cứu tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam) Chủ nhiệm đề tài: Hà Thị Thuý Đơn vị thực hiện: Viện Nghiên cứu Phụ nữ Hà Nội, năm 2023 1 I. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 1. Tên đề tài: Ảnh hưởng của mối quan hệ đồng nghiệp đến sự hài lòng với công việc của nữ công chức, viên chức (Nghiên cứu tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Hội LHPN Việt Nam) 2. Thời gian thực hiện: từ tháng 03 năm 2023 đến tháng 11 năm 2023 3.
Kinh phí thực hiện Bằng số: 50.000 Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng chẵn 4. Chủ nhiệm đề tài: Họ và tên: Hà Thị Thuý Ngày, tháng, năm sinh: 22 tháng 08 năm 1979 Học hàm, học vị: Ths Chuyên ngành đào tạo: Tâm lý học Đơn vị công tác: Viện nghiên cứu phụ nữ, Học viện phụ nữ Việt Nam Điện thoại liên hệ: 0904522814 Email: hathuync79@vwa. Thư ký và những người thực hiện đề tài: Thư ký đề tài Họ và tên: Đồ Ngọc Nhung Học hàm, học vị: Ths Đơn vị công tác: Viện nghiên cứu phụ nữ, Học viện phụ nữ Việt Nam Thành viên tham gia Họ và tên: Lê Hồng Việt Học hàm, học vị: TS Đơn vị công tác: Viện nghiên cứu phụ nữ, Học viện phụ nữ Việt Nam 6. Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Phụ nữ Việt Nam 7.
Lĩnh vực khoa học: Tự nhiên; Khoa học xã hội và nhân văn; Kỹ thuật và công nghệ; Khác. NỘI DUNG KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 8. Tổng quan tình hình nghiên cứu, luận giải về sự cần thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài (Mô tả, phân tích, đánh giá đầy đủ, rõ ràng mức độ thành công, hạn chế của các công trình nghiên cứu có liên quan và những kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu của đề tài) 2 Các nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc Sự hài lòng trong công việc đã được nhiều học giả quan tâm nhưng vẫn chưa đạt được sự thống nhất vì mỗi nhà nghiên cứu có cách tiếp cận và đưa ra khái niệm khác nhau. Xem xét ở khía cạnh cảm xúc, sự hài lòng trong công việc phản ánh trải nghiệm chủ quan của một cá nhân, về tình huống làm việc của một người - phản ứng và cảm xúc của một người đối với các khía cạnh khác nhau trong vai trò công việc của anh ta.
Hoppock (1935) là nhà tâm lý học công nghiệp đầu tiên đưa ra khái niệm “sự hài lòng trong công việc”, một định nghĩa hợp lý. Ông định nghĩa sự hài lòng trong công việc là bất kỳ sự kết hợp nào, khiến một người thành thật nói rằng “Tôi hài lòng với công việc của mình” Theo Locke (1969), định nghĩa sự hài lòng trong công việc là cảm giác hài lòng bắt nguồn từ việc đánh giá công việc của một người và hiểu rằng công việc đang hỗ trợ đạt được mục tiêu của người đó. Sự không hài lòng trong công việc là cảm giác khó chịu mà người đó cảm thấy nếu đánh giá công việc như một rào cản trong việc đạt được các giá trị của mình. Ông cũng tuyên bố rằng có ba yếu tố tồn tại trong bất kỳ quy trình đánh giá công việc nào: nhận thức về khía cạnh của công việc, hệ thống giá trị và đánh giá mối quan hệ giữa nhận thức và hệ thống giá trị.
Nếu công việc của họ giúp họ đạt được những mục tiêu đó, thì họ hài lòng. Theo Spector (1997), “Sự hài lòng trong công việc đơn giản là cách mọi người cảm nhận về công việc của họ và các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ. Đó là mức độ mọi người thích (hài lòng) hoặc không thích (không hài lòng) công việc của họ. Còn Price (1997) cho rằng, sự hài lòng của công việc chính là định hướng tình cảm tích cực của người lao động với doanh nghiệp.
Ở một khía cạnh khác, Evans và Rauch (1999) đã nêu quan điểm về sự hài lòng trong công việc bao gồm những cảm xúc mà cá nhân người lao động nhận thấy được những nhu cầu của họ được đáp ứng. Những nhu cầu đó chính là về môi trường làm việc nếu môi trường làm việc đáp ứng càng cao giá trị và tinh thần của người lao động thì đem lại sự hài lòng trong công việc càng cao. Hay đối với tác giả Oshagbemi (2000) lại cho rằng, sự hài lòng trong công việc chính là phản ứng cảm xúc của cá nhân đối với công việc cụ thể, đó là cảm giác yêu thích và luôn hướng đến công việc của mình đang làm. Theo Smith et al.
(1969) nói rằng những cảm xúc đó là do sự khác biệt giữa những gì được mong đợi từ công việc và những gì thực sự được trải nghiệm, đồng thời so sánh sự khác biệt này với các công việc thay thế. Greenberg (1997) và Robbins (2005) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là phản ứng cảm xúc của một cá nhân đối với một công việc cụ thể. Smith, Kendall và Hulin (1969) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là “cảm xúc hoặc phản ứng tình cảm đối với các khía cạnh của tình huống”. Sudhir Kakar (1974) đã sử dụng từ “sự hài lòng trong công việc” và gọi nó là “trải nghiệm chủ quan của một cá nhân về hoàn cảnh công việc của anh ta - phản ứng của anh ta, mức độ cảm xúc, đối với các khía cạnh khác nhau trong vai trò công việc của anh ta”.
Pestonjee (1991) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là “tổng hợp cảm xúc của nhân viên trong bốn lĩnh vực quan trọng, đó là công việc, quản lý, điều chỉnh cá nhân và quan hệ xã hội. Hai lĩnh vực đầu tiên bao gồm các yếu tố liên quan trực tiếp đến công việc (yếu tố nội tại) và hai lĩnh vực còn lại bao gồm các yếu tố không liên quan trực tiếp đến công việc nhưng được cho là có ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc (yếu tố bên ngoài)”. Xem xét ở khía cạnh thái độ, có nhiều tác giả định nghĩa sự hài lòng trong công việc là một “thái độ” của một người đối với công việc của mình thay vì một “tình cảm”. Miner (1992) cho rằng có thể coi sự hài lòng trong công việc nói chung tương đương với thái độ trong công việc (p.
Theo Spector (2008) sự hài lòng trong công việc là một biến thái độ phản ánh cách mọi người cảm nhận về công việc của họ. Armstrong (2004) cho rằng sự hài lòng trong công việc là “thái độ và cảm xúc của mọi người về công việc của họ. Những cảm xúc như vậy đối với công việc thường được đánh giá thông qua các thước đo về sự hài lòng trong công việc. Thái độ tích cực và thuận lợi đối với công việc cho thấy sự hài lòng trong công việc.
Thái độ tiêu cực và bất lợi đối với công việc cho thấy sự không hài lòng trong công việc. Purohit (2004) chỉ ra rằng sự hài lòng trong công việc là một tập hợp con cụ thể của thái độ được nắm giữ bởi tổ chức các thành viên. Đó là thái độ của một người đối với một các yếu tố như tiền lương, an ninh việc làm và điều kiện làm việc. Spector (2008) và Kreitner và Kinicki (2006) tuyên bố rằng sự hài lòng trong công việc bao gồm cảm giác toàn cầu về công việc và bao gồm một nhóm thái độ liên quan về các khía cạnh khác nhau của công việc (chẳng hạn như tiền lương, giám sát và đồng nghiệp) mà nhân viên phản hồi hiệu quả.
Định nghĩa này ngụ ý hai cách tiếp cận đối 4 với sự hài lòng trong công việc, đó là cách tiếp cận toàn cục, được sử dụng khi thái độ tổng thể được quan tâm và cách tiếp cận khía cạnh, được sử dụng để tìm ra phần nào của công việc tạo ra sự hài lòng hoặc không hài lòng. Định nghĩa này ngụ ý hai cách tiếp cận đối với sự hài lòng trong công việc, cụ thể là cách tiếp cận toàn cục, được sử dụng khi thái độ chung được quan tâm và cách tiếp cận khía cạnh, được sử dụng để tìm ra phần nào của công việc tạo ra sự hài lòng hay không hài lòng. Theo quan điểm của Spector (1997) chỉ ra rằng khái niệm về sự hài lòng trong công việc đã thay đổi trong 30 năm qua từ việc đáp ứng nhu cầu sang sự hài lòng trong công việc như một biến thái độ. Chẳng hạn, nhân viên có thể có thái độ gắn bó với hoặc tách rời khỏi tổ chức của họ.
Schermerhorn và cộng sự. (2005), người định nghĩa sự hài lòng trong công việc là “mức độ mà mọi người cảm thấy tích cực hay tiêu cực về công việc và các khía cạnh khác nhau của nó” Benge và Hickey (1984) đã công nhận sự hài lòng trong công việc là tập hợp các thái độ khác nhau của một nhân viên tại một thời điểm nhất định. Weiss (2002) cho rằng sự hài lòng trong công việc là một thái độ, là “một đánh giá đánh giá tích cực (hoặc tiêu cực) của một người về công việc hoặc tình hình công việc của mình”. Theo Blum và Naylor (1968) “sự hài lòng trong công việc là kết quả của nhiều thái độ của một nhân viên.
Đó là một thái độ chung, là kết quả của nhiều thái độ cụ thể trong ba lĩnh vực cụ thể là (i) các yếu tố công việc; (ii) đặc điểm cá nhân; và (iii) quan hệ nhóm bên ngoài công việc”. Một quan điểm rộng hơn là thuộc tính cơ bản và thiết yếu của thái độ là sự đánh giá (Petty, Wegener và Fabrigar, 1997). Việc đánh giá các đối tượng bao gồm các chiều khác nhau từ tích cực đến tiêu cực tạo ra thái độ. Điều đó có nghĩa là sự hài lòng trong công việc thường được định nghĩa là một thái độ là một đánh giá tích cực hoặc tiêu cực mà một người đưa ra về công việc hoặc tình hình công việc của mình.
Sau khi thiết lập khái niệm về sự hài lòng trong công việc, điều này bây giờ có thể được giải cấu trúc. Sự hài lòng trong công việc có thể được phân loại thành sự hài lòng bên ngoài, nội tại và tổng thể. Sự hài lòng bên trong có nghĩa là các nhiệm vụ khác nhau của một công việc ảnh hưởng đến sự hài lòng.