Chương 1: Tổng quan Chương 2: Ch a Hội Khánh qua các giai đoạn phát triển Chương 3: Một số nhận định, đề xuất và kiến nghị về việc bảo tồn và phát huy giá trị của Tổ đình Hội Khánh Theo Từ điển Phật học Việt Nam của Thích Minh Châu và Minh Chi, thì Tổ đình là ch a Tổ, ch a chính, nơi trụ trì hiện nay hay là xưa kia của Tổ sư. Tổ sư là vị sư khai sơn lập ch a, thu nhận học trò, hay là vị sư lập ra một phái tu mới. Khi Phật giáo chưa có cơ cấu tổ chức giáo hội, mọi sinh hoạt Phật giáo đều dựa theo từng dòng phái, xuất phát từ bài kệ của các tổ sư. Vì vậy, tổ đình là nơi xuất phát của dòng phái, các ch a thuộc tổ đình đều đến sinh hoạt chung tại tổ đình trong những ngày giỗ kỵ, các tu sĩ quan hệ chặt chẽ với nhau theo từng dòng phái.
Hiện nay theo Thông tư 05 của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã quy định danh xưng Tổ đình phải đạt những tiêu chí như trên. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Bối cảnh lịch sử Tổ đình Hội Khánh là một ngôi ch a cổ được Thiền sư Đại Ngạn (thuộc dòng Lâm Tế) khai sơn năm Cảnh Hưng thứ 2, đời Lê Hiển Tông, tức năm Tân Dậu (1741) ở Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Lúc đầu ch a Hội Khánh được xây trên một ngọn đồi cao, nhưng vào năm 1861 ch a đã bị phá hủy trong chiến tranh.
Ch a được thầy Thích Chánh Đ c cho xây lại dưới chân đồi khoảng 100 m cách vị trí cũ. Địa chỉ của ch a hiện tại là 29 đường Ch a Hội Khánh, phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, 30km về phía b c Thành phố Hồ Chí Minh. Ch a nằm cách đường cái 150m. Sau cổng Tam Quan có chạm rồng phượng, ch a tọa trên một v ng dất yên tĩnh với nhiều cây cối, đặc biệt là có bốn cây dầu đã được trồng cách đây hơn một thế kỷ sau khi ch a được xây lại.
D được tr ng tu và mở rộng nhiều lần nhưng ch a vẫn không mất đi vẻ cổ kính. Nơi tụng kinh và gian phía đông của ch a được xây dựng lại vào năm 1917 và gian phía tây được xây lại vào năm 1984. Chính điện được xây lại năm 1990 và 1991. Vào ngày 29 tháng 2 năm 1992, Hội đồng Trị sự Phật giáo tỉnhSông Bé cho tr ng tu lại những pho tượng cổ trong ch a.
Diện tích của chính diện c ng với nơi tụng kinh và hai gian phía bên đông và tây là 700 m². Trong chính diện có tượng Phật Thích Ca, Địa Tạng và những vị bồ tát khác, tất cả đều làm bằng gỗ mít sơn son thiếp vàng. Ngoài ra có tượng của 18 vị La Hán xung quanh chính điện. Các tượng được những người thợ trong v ng Thủ Dầu Một tạo tác vào thế kỷ thứ XIX.
Những khởi s c về mặt Phật học và in ấn kinh điển ở ch a Hội Khánh vào những năm cuối Thế kỷ XIX là rất quan trọng cho việc truyền bá giáo lý Phật giáo ở v ng Thủ Dầu Một cho đến ngày nay. Đến đầu Thế kỷ XX, sinh hoạt Phật giáo ở Thủ Dầu Một đã đi vào nề nếp. Ch a Hội Khánh là trung tâm giảng dạy giáo lý, cũng như điều hành Phật sự trong Toàn tỉnh. Trong suốt 250 năm kể từ ngày thành lập ch a đã có 10 vị sư trụ trì.
Chín vị đã mất, được hỏa thiêu và tro được giữ lại tại ch a. Các vị trụ trì quá cố gồm có: Thích Đại Ngạn, Thích Chân Kính, Thích Chánh Đ c, Thích Trí Tập, Thích Thiện 7 Quới, Thích Từ Văn, Thích Ấn Bửu - Thiện Quới, Thích Thiện Hương và Thích Quảng Viên. Đương nhiệm trụ trì là Hòa thượng Thích Huệ Thông, hiện là Trưởng ban Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Dương. Đã từ lâu, Tổ đình Hội Khánh là một trung tâm tu học Phật giáo trong v ng.
Nhiều vị tăng được đào tạo từ ch a đã ra mở ch a mới và trụ trì ở đó. Trong số các vị trụ trì, Hòa thượng Thích Từ Văn được coi là một trong những vị danh tăng dẫn đầu trong phong trào đấu tranh của Phật giáo miền Nam Việt Nam. Năm 1920 Hòa thượng được mời qua Marseille, Pháp để thuyết pháp. Hòa thượng là một người có công lớn trong việc thiết lập ch a Hội Khánh ở Marseille.1 Bối cảnh kinh tế - văn hóa- xã hội 1.
Vài nét chung về tỉnh Bình Dương Ch a Hội Khánh nằm tại số 35 Đường Yersin, Phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Theo Quyết định số 81/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong v ng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao xuống thấp dần từ 10m đến 15m so với mặt biển. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía B c giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và một phần tỉnh Đồng Nai. Theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2013 của Chính phủ, tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ); dân số 1.
V ng đất Bình Dương được cho là “tương đối bằng phẳng, thấp dần từ b c xuống nam. Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều v ng địa hình khác nhau: v ng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, v ng có địa hình bằng phẳng, v ng thung lũng bãi bồi. Có một số núi thấp, như núi Châu Thới (huyện Dĩ An), núi Cậu (còn gọi 8 là núi Lấp Vò) ở huyện Dầu Tiếng… và một số đồi thấp.Đất đai Bình Dương đa dạng và phong phú về chủng loại, bao gồm có đất xám trên ph sa cổ (có diện tích 200.000 ha, phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, thị xã Bến Cát, thị xã Thuận An, thành phố Thủ Dầu Một), đất nâu vàng trên ph sa cổ (có khoảng 35.206 ha nằm trên các v ng đồi thấp thoải xuống, thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, khu vực thành phố Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13), đất ph sa Glây hay còn gọi là đất dốc tụ (chủ yếu là đất dốc tụ trên ph sa cổ, nằm ở phía b c huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An), đất thấp m n Glây (có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những v ng trũng ven sông rạch, suối). Khí hậu ở Bình Dương là khí hậu nhiệt đới gió m a ổn định: n ng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao, trong năm phân chia thành hai m a rõ rệt là m a khô và m a mưa.
M a mưa thường b t đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dương lịch. Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hưởng bởi những cơn bão gần”1. Thời kỳ mở đất phương Nam, Bình Dương là tên một tổng thuộc huyện Tân Bình, phủ Gia Định. Đến năm 1808, khi huyện Tân Bình được đổi thành phủ thì Bình Dương được nâng lên thành một trong bốn huyện của phủ này.
Năm 1956, tỉnh Bình Dương được thiết lập nhưng không phải tr ng với địa bàn của huyện Bình Dương xưa kia. Đến năm 1997, tỉnh Bình Dương được tái lập, nhưng cũng không phải hoàn toàn là địa phận của tỉnh Bình Dương trước năm 1975. Như vậy, trong lịch sử, Bình Dương là tên gọi của những đơn vị hành chính theo những cấp độ khác nhau (tổng, huyện, tỉnh) với những địa bàn, địa giới khác nhau. Vốn g n liền với Gia Định, Đồng Nai xưa, tức là miền Đông Nam Bộ ngày nay, cư dân Bình Dương là một bộ phận cư dân miền Đông Nam bộ, nhưng đồng thời Bình Dương là v ng đất được bao bọc bởi sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, có những điều kiện sinh thái đặt biệt nên cư dân Bình Dương có những đặc điểm riêng từ lịch sử hình thành đến kỹ năng nghề nghiệp2.
1 Theo http://binhduong.vn 2 Theo http://binhduong.vn 9 V ng đất Bình Dương từ lâu đã được biết đến với hình ảnh nhộn nhịp của sự giao thương và hội tụ từ nhiều v ng miền trong cả nước. Dưới thời thuộc địa của Pháp, như cách gọi của người đương thời, đó là tỉnh lỵ của một “tỉnh miệt vườn” thuần nông, chỉ có hai trục giao thông chính là sông Sài Gòn và Quốc lộ 13, dân số chỉ vài vạn người, chủ yếu là nông dân. V ng đất Bình Dương xưa và nay không chỉ dược biết đến với kinh tế phát triển, năng động mà còn được biết đến với bề dày lịch sử, văn hóa phát triển rất phong phú, đa dạng, có nhiều nét chung hòa quyện vào lịch sử - văn hóa phương Nam nhưng vẫn giữ được những nét riêng rất độc đáo, tạo ấn tượng khó phai trong lòng mỗi người dân. Tính đến nay, tỉnh Bình Dương có 11 di tích lịch sử, văn hóa được công nhận cấp quốc gia, 39 di tích lịch sử, văn hóa được công nhận cấp tỉnh.
Trong tiến trình phát triển, v ng đất này mang đậm những nét văn hoá của v ng đất có các làng nghề thủ công truyền thống. Bình Dương tạo dấu ấn sâu s c với các sản phẩm thủ công được chế tác từ những làng nghề nổi tiếng đã định vị trên địa bàn hơn 300 năm. Tiêu biểu nhất trong số đó là những nghề đã có từ rất sớm và phát triển mạnh ở đất Thủ - Bình Dương như: Làng gốm sứ ở Lái Thiêu, Tân Phước Khánh; làng mộc, chạm kh c gỗ ở Chánh Nghĩa, Phú Thọ. Ch a Hội Khánh đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào năm 1993.
Tháng 5/2013, tổ chức kỷ lục Châu Á đã chính thức xác lập tượng Phật Nằm tại ch a là “Tượng Phật nhập Niết bàn trên mái ch a dài nhất Châu Á”. Vài nét về lịch sử Phật giáo tỉnh Bình Dương Từ sau năm 1698, với sự thiết lập cơ cấu hành chính của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu), v ng đất Đàng Trongmà Đồng Nai, Gia Định là hai khu vực lớn đã đón nhận di dân từ miền Trung vào Nam khai phá, ch a chiền cũng theo sự có mặt của di dân mà hiện diện rộng kh p.