Tài liệu: Quá trình hình thành và phát triển đường lối cách

Tìm hiểu quá trình hình thành đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng giai đoạn 1930-1945, nền tảng cho độc lập tự do của Việt Nam.

2022

53
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu hình thành đường lối cách mạng

Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam đã chuyển từ một xã hội phong kiến sang xã hội thuộc địa với những mâu thuẫn giai cấp và dân tộc vô cùng phức tạp. Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930, các phong trào yêu nước liên tiếp thất bại do thiếu đường lối cách mạng rõ ràng và tổ chức lãnh đạo vững mạnh. Bối cảnh này đặt ra nhu cầu cấp thiết cho cách mạng Việt Nam phải có một đảng của giai cấp công nhân để lãnh đạo. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2 năm 1930 là bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng, khẳng định vai trò của tư tưởng Mác-Lênin trong cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam.

1.1. Tình hình Việt Nam dưới ách thống trị thực dân Pháp

Thực dân Pháp áp dụng chính sách khai thác tàn bạothống trị độc đoán đối với Việt Nam, biến đất nước thành xã hội thuộc địa. Kinh tế nông nghiệp bị suy thoái, người dân chịu áp bức giai cấpáp bức dân tộc nặng nề. Các mâu thuẫn xã hội trở nên sắc nét, tạo điều kiện cho phong trào yêu nướccách mạng phát triển mạnh mẽ.

1.2. Những thất bại của phong trào yêu nước trước 1930

Các phong trào như Cần Vương, Phong trào Đông Du và những nổi dậy khác đều thất bại vì thiếu đường lối cách mạng khoa học và tổ chức lãnh đạo mạnh mẽ. Những phong trào này không có lý thuyết cách mạng đúng đắn để chỉ dẫn hành động, dẫn đến sự khoảng trống lãnh đạo trong phong trào yêu nước.

II. Quá trình hình thành cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam ngay lập tức xây dựng cương lĩnh chính trị đầu tiên, khẳng định mục tiêu giải phóng dân tộcxây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh này phản ánh sự kết hợp giữa đấu tranh giai cấp của công nhân Việt Nam và đấu tranh dân tộc chống thực dân Pháp. Quá trình hình thành này là sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cương lĩnh đã chỉ rõ phương hướng cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn từ 1930 đến 1939, mở đường cho Đảng thực hiện các hoạt động cách mạng có hiệu quả cao hơn.

2.1. Nội dung cương lĩnh chính trị của Đảng

Cương lĩnh chính trị xác định nhiệm vụ chính là đấu tranh giành độc lập dân tộcxây dựng nhà nước dân chủ nhân dân. Nó khẳng định vai trò của giai cấp công nhânnông dân trong cách mạng, cũng như liên minh công nông là nền tảng của phong trào cách mạng. Các chủ trương cụ thể hướng tới no cơm, áo ấm, tự do chính trịđộc lập dân tộc.

2.2. Ý nghĩa lịch sử của cương lĩnh chính trị

Cương lĩnh này là bước ngoặt vô cùng quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng Việt Nam trong lãnh vực lý thuyếttổ chức. Nó giúp Đảngđường lối hành động rõ ràng, khoa học, tăng cường sự lãnh đạoảnh hưởng đối với công nhân, nông dân và trí thức yêu nước.

III. Sự phát triển và hoàn chỉnh đường lối cách mạng từ 1930 đến 1945

Trong suốt giai đoạn từ 1930 đến 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua quá trình nhận thức thực tiễn và liên tục điều chỉnh đường lối cách mạng để phù hợp với những thay đổi của tình hình. Luận cương chính trị (1930) ban đầu được bổ sung và hoàn chỉnh qua các kỳ đại hội của Đảng. Đặc biệt, từ năm 1939 trở đi, khi tình hình Chiến tranh thế giới thứ hai ảnh hưởng đến Đông Dương, Đảng đã có những chủ trương mới phù hợp hơn. Quá trình hoàn chỉnh đường lối này đã dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, khẳng định tính khoa họcsáng tạo của Đảng trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam.

3.1. Những điều chỉnh đường lối giai đoạn 1930 1939

Đảng đã từng bước khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị đầu tiên, đặc biệt là vấn đề cân bằng giữa đấu tranh dân tộcđấu tranh giai cấp. Các kỳ đại hội của Đảng đã ra những chủ trương cụ thể hơn về chiến lược đấu tranhphương pháp tổ chức phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

3.2. Hoàn chỉnh đường lối giai đoạn 1939 1945

Từ 1939 đến 1945, Đảng đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ, xác định rõ chiến lược chínhđấu tranh giành độc lập dân tộc trong bối cảnh Chiến tranh thế giới. Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Đảng đã vận dụng tư tưởng Mác-Lênin sáng tạo, tạo ra đường lối giải phóng thích hợp nhất, dẫn đến thành công vĩ đại của Cách mạng tháng Tám.

IV. Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay

Quá trình hình thành và phát triển đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1930 đến 1945 mang lại những bài học lịch sử quý báu. Trước hết, Đảng đã chứng minh rằng sự nhận thức đúng đắn về tình hình lịch sửvận dụng sáng tạo lý thuyết cách mạngchìa khóa để thắng lợi. Thứ hai, quá trình điều chỉnh đường lối liên tục dựa trên thực tiễn cho thấy tính linh hoạtkhoa học của lãnh đạo Đảng. Ngày nay, khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, những bài học về vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, lắng nghe tiếng nói nhân dânđiều chỉnh chính sách kịp thời vẫn có ý nghĩa hướng dẫn quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước.

4.1. Bài học về sự vận dụng sáng tạo lý thuyết cách mạng

Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, không cơ khí hoásáng tạo. Bài học này nhấn mạnh rằng lý thuyết phải gắn liền với thực tiễn, và đường lối chính sách phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia.

4.2. Ý nghĩa cho thực tiễn hiện nay

Hiện nay, trong quá trình cải cách, hiện đại hoá, Đảng cần tiếp tục phát huy truyền thống nhận thức sâu sắc thực tiễn, lắng nghe ý kiến nhân dânđiều chỉnh chủ trương kịp thời. Việc học tập lịch sử giúp Đảngnhân dântự tinhướng đi rõ ràng cho phát triển bền vững của Việt Nam.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề giải phóng dân tộc về phạm vi Việt Nam, tách cách mạng ruộng đất ra khỏi cách mạng tư sản dân quyền và xác định lực lượng cách mạng với các giai cấp không có thế lực mạnh và trung lập. Tiểu kết chương Í Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương — phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (năm 1896). Sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa.

Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài may chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tô chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. CMYVN chỉm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lỗi cứu nước. Sau 10 năm lựa chọn con đường cánh mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc tích cực tập trung chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tô chức cho việc thành lập Đảng ở Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất các tô chức ĐCS ở Việt Nam (03/02/1930) thành một Đảng Cộng sản duy nhất — Đảng Cộng sản Việt Nam — theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây la kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với CMVN. Sự kiện ĐCSVN ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử CMVN, đánh dẫu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng 03/02/1930 thông qua đã xử lý đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp trong chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc.

Vì mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội Việt Nam thời kỳ này là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Chuong 2 LUẬN CUONG CHINH TRI VA CHU TRUONG CUA DANG (1930 - 1939) 2.1 Luận cương chính tri 2.1 Hoàn cảnh lịch sử Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hội nghị thành lập Đảng tháng 2/1930 thông qua mới chỉ phác ra những nét cơ bản nhất về đường lối cách mạng Việt Nam. Yêu cầu khách quan đòi hỏi Đảng phải có một cương lĩnh đầy đủ, toàn diện hơn. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, một cao trào cách mạng rộng lớn của quân chúng diễn ra ngày cảng sôi nỗi và đang trên đà phát triên mạnh.

Tháng 4/1930, đồng chí Trần Phú về nước sau quá trình học tập tại trường Quốc tế Phương Đông. Tháng 7/1930 Trần Phú được bầu vào BCHTW lâm thời và được giao nhiệm vụ cùng với một số đồng chí soạn thảo Luận cương chuẩn bị cho Hội nghị BCHTW Đảng. Từ ngày 14— 30/10/1930, Hội nghị BCHTW họp lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc) do Trần Phú chủ trì. Hội nghị đã thông qua nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, thảo luận luận cương chính trị của Đảng, Điều lệ Đảng và điều lệ các tổ chức quan chúng.

Thực hiện chỉ thị của Quốc tế Cộng sản Hội nghị quyết định đôi tên ĐCSVN thành ĐCS Đông Dương. Hội nghị cử BCHTW chính thức và cử Trần Phú làm Tông bí thư. ĐCSVN ra đời và việc Đảng chủ trương CMTVN là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế ĐIỚI, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thăng lợi vẻ vang. Đồng thời CMVN cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.2 Noi dung luận cương chính trị Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua bản luận cương chính trị với các nội dụng cơ bản sau: Về mâu thuân giai cấp ở Đông Dương: một bên là thợ thuyền, dân cày và các phan tử lao khô với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đề quốc.

Luận cương đã chỉ ra được mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt điều đó giúp vạch ra phương hướng chiến lược mới của cách mạng Đông Dương đó là: lúc đầu cách mạng Đông Dương là cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, có tinh chat thô địa và phản đề, “tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”, sau khi cách mạng tư sản dân quyên thăng lợi sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thăng lên con đường xã hội chủ nghĩa”. Khăng định nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyên là: Đánh đồ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đô đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Luận cương đã phân tích đặc điểm, tình hình xã hội thuộc địa nửa phong kiến và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo. Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau, vì có đánh đô để quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ, đề tiến hành cách mạng thô địa thắng lợi, và có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh đồ được để quốc chủ nghĩa.

Trong hai nhiệm vụ này, “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyên” và là cơ sở đễ Đảng giành quyền lãnh đạo dân cay. Về lực lượng cách mạng: Giai cấp vô sản vừa là động lực chính của cách mạng tư sản đân quyền vừa là giai cấp lãnh đạo cách cách mạng. Dân cày là lực lượng đông đảo nhất và là động lực mạnh của cách mạng. Tư sản thương nghiệp thì đứng về phe đề quốc và địa chủ chống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo để quốc.

Trong giai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do dự: tiêu tư sản thương gia thì không tán thành cách mạng: tiêu tư sản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thê hăng hái tham gia chống đề quốc trong thời kỳ đầu. Chỉ có các phần tử lao khô ở đô thị như những người bán hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thất nghiệp mới đi theo cách mạng mà thôi. Về phương pháp cách mạng: Đề đạt được mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đồ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường “võ trang bạo động”. Võ trang bạo động đề giành chính quyền là một nghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà binh”.

Về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thể giới: Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết găn bó với giai câp vô sản thê giới, trước hét la giai cap v6 san Phap,va phải mật thiệt liên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc dia và nửa thuộc địa nhăm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương. Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Sự lãnh đạo của DCS la điều kiện cốt yếu cho thăng lợi của cách mạng. Đảng phải có đường lối chính trị đúng đắn, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên hệ với quần chúng. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mac-Lénin làm nền tảng tư tưởng, đại biểu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương, đấu tranh đề đạt được mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.

Luận cương chính tri khăng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược cách mạng mà C hánh cương văn tắt và Sách lược văn tắt đã nêu ra. Bên cạnh mặt thông nhất cơ bản, giữa Luận cương chính trị với Chánh cương vốn tắt và Sách lược vắn tắt có mặt khác nhau. Nhưng luận cương chính trị không nêu ra được mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đề quốc Pháp, từ đó không đặt nhiệm vụ chống đề quốc lên hàng đầu; đánh giá không đúng vai trò cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của tư sản dân tộc và chưa thấy được khả năng phân hóa, lôi kéo một phận địa chủ vừa và nhỏ trong cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đó, Luận cương đã không đề ra được một chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đề quốc xâm lược và tay sai.

Luận cương chính trị chưa tìm ra và nắm vững những đặc điểm của xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam. Nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng ở thuộc địa, lại chịu ảnh hưởng trực tiếp khuynh hướng “tả” của Quốc tế Cộng sản và một số ĐCS trong thời gian đó. Chính vì vậy, Hội nghị BCHTW tháng 10/1930 đã không chấp nhận những quan điểm mới, sáng tạo, độc lập tự chủ của Nguyễn Ái Quốc được nêu trong Đường Kách mệnh, Chánh cương văn tắt và Sách lược văn tắt. Ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị thành lập Hội phản đề đồng minh, nêu lên tư tưởng chiến lược cách mạng đúng đắn của Đảng coi việc đoàn kết toàn dân thành một lực lượng thật rộng rãi, lây công nông làm hai động lực chính, là một nhân tố quyết định thang lợi của cách mạng giải phóng dân.

Chỉ thị phê phán những nhận thức sai lầm trong Đảng đã tách rời vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, nhận thức không đúng về vấn đề đoàn kết dân tộc, về vai trò của Hội phản dé déng minh trong cach mang ở thuộc địa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ