Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận quản lý rừng bền vững 1. Phát triển bền vững Khái niệm “phát triển bền vững” chính thức xuất hiện năm 1987 trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) như là “sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Định nghĩa này bao hàm 2 khái niệm: Thứ nhất, khái niệm về nhu cầu, đặc biệt là nhu cầu thiết yếu của người nghèo, và thứ hai, khái niệm về sự giới hạn, đó là giới hạn hay khả năng của môi trường có thể đáp ứng được nhu cầu của hiện tại và cả tương lai. Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Điều đó đã được khẳng định qua Tuyên bố Rio de Ja-neiro (1992) về môi trường và phát triển, bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và chương trình nghị sự 21. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (2002) ở Johannesburg, các nguyên tắc trên và chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững đã được khẳng định lại và cam kết thực hiện đầy đủ.
Định nghĩa quản lý rừng bền vững Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu n 5 chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới. Hiện tại có hai định nghĩa đang được sử dụng ở Việt Nam. Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), QLRBV là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Theo Tiến trình Hensinki, QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác.
Các định nghĩa trên, nhìn chung tương đối dài dòng nhưng tựu trung lại có mấy vấn đề chính sau: Quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra (sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ.; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất.; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái. Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể: Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng). Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương. n 6 Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác.
Các nguyên lý quản lý rừng bền vững Nguyên lý thứ nhất là: Sự bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng tài nguyên rừng: Cuộc sống con người luôn gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên và để sử dụng nó, chúng ta cần phải bảo vệ nó vì tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận. Theo định nghĩa Brundtland thì phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến các khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng được các nhu cầu của họ”. Vấn đề chìa khoá để bảo đảm nguyên lý bình đẳng giữa các thế hệ trong quản lý tài nguyên rừng là bảo đảm năng suất và các điều kiện tái sinh của nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo này. Một trong những nguyên tắc cần tuân thủ là tỷ lệ sử dụng lâm sản không được vượt quá khả năng tái sinh của rừng.
Nguyên lý thứ hai là: Trong quản lý tài nguyên rừng bền vững, sự phòng ngừa, nó được hiểu là: ở đâu có những nguy cơ suy thoái nguồn tài nguyên rừng và chưa có đủ cơ sở khoa học thì chưa nên sử dụng biện pháp phòng ngừa suy thoái về môi trường. Nguyên lý thứ ba là: Sự bình đẳng và công bằng trong sử dụng tài nguyên rừng ở cùng thế hệ: Đây là một vấn đề khó, bởi vì trong khi cố tạo ra sự công bằng cho các thế hệ tương lai thì chúng ta vẫn chưa tạo được những cơ hội bình đẳng cho những người sống ở thế hệ hiện tại. Rawls, 1971 cho rằng, sự bình đẳng trong cùng thế hệ hàm chứa hai khía cạnh: - Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng về sự tự do thích hợp trong việc được cung cấp các tài nguyên từ rừng. n 7 - Sự bất bình đẳng trong xã hội và kinh tế chỉ có thể được tồn tại nếu: sự bất bình đẳng này là có lợi cho nhóm người nghèo trong xã hội và tất cả mọi người đều có cơ hội tiếp cận nguồn tài nguyên rừng như nhau.
Nguyên lý thứ tư là tính hiệu quả: Tài nguyên rừng phải được sử dụng hợp lý và hiệu quả nhất về mặt kinh tế và sinh thái. Phát triển bền vững trong Lâm nghiệp cộng đồng Trong chiến lược quản lý tài nguyên rừng, để đạt được mục tiêu bền vững của nguồn tài nguyên rừng, hiện nay người ta đã sử dụng một số phương pháp tiếp cận nhằm huy động sự tham gia của các bên liên quan như sau: Quản lý tài nguyên đất/thiên nhiên dựa vào cộng đồng: Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn diện nhằm xác định những vấn đề mang tính nhiều mặt ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của những cộng đồng địa phương. Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên: Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên là một cách tiếp cận đa nguyên để quản lý tài nguyên thiên nhiên bằng cách kết hợp nhiều đối tác với nhiều vai trò, với mục đích cuối cùng là bảo vệ môi trường, quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và phân chia đồng đều những quyền lợi và trách nhiệm liên quan đến tài nguyên cho các bên liên quan. Quản lý mang tính thích nghi: Quản lý mang tính thích nghi là một cách quản lý tài nguyên thiên nhiên áp dụng cho việc hoạch định chính sách, tổ chức sản xuất cho cộng đồng phải phù hợp với phong tục tập quán sản xuất của các vùng sinh thái nhằm phát huy tối đa điều kiện tự nhiên và tri thức bản địa của cộng đồng, không tác động nhiều làm phá vỡ hệ sinh thái tự nhiên và tri thức bản địa của cộng đồng.
Phát triển bền vững về mặt sinh thái: Là hình thức sử dụng, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng cho phù hợp với n 8 các vùng sinh thái khác nhằm làm sao cho hệ sinh thái tự nhiên được duy trì bền vững, nhưng chất lượng cuộc sống tổng thể của các cộng đồng được nâng cao trong hiện tại và tương lai. Phát triển bền vững về mặt sinh thái có nghĩa là thích ứng giữa sự tăng trưởng kinh tế của cộng đồng với điều kiện tự nhiên, vì nền kinh tế cộng đồng bền vững chỉ có thể thực hiện được trên nền tảng hệ sinh thái ổn định. Như vậy để phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng và đất rừng, thì việc xác định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ các bên có liên quan rất quan trọng, trong đó thay đổi nhận thức của các cộng đồng sống gần rừng trong bảo vệ nguồn tài nguyên là vô cùng quan trọng. Cơ sở lý luận về lâm nghiệp cộng đồng 1.
Cộng đồng địa phương và quản lý rừng cộng đồng Theo Darcy Davis Case (1990), cộng đồng địa phương là nhóm người cùng sống trên một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung hoặc có quan hệ gia đình với nhau. Trong báo cáo hội thảo quốc gia “Khuôn khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội tháng 11/2001cho rằng: “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm tương đồng về mặt văn hoá truyền thống, có mối quan hệ sản xuất, đời sống gắn bó với nhau và thường có danh giới không gian trong một làng bản”. Theo điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004, thì cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương. Như vậy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thôn, làng bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm người có những đặc điểm và lợi ích chung,… trong phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa cộng đồng địa phương là thôn, xóm.
n 9 Quản lý rừng cộng đồng là quản lý tài nguyên rừng mà trong đó phát huy được năng lực nội sinh của cộng đồng cho hoạt động quản lý.