Chương 1: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG GIÁO VIÊN THPT CỦA MỘT SỐ TỈNH PHÍA NAM HIỆN NAY VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐÀO TẠO THEO HỢP ĐỒNG GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG. Thực trạng đào tao và sử dung giáo viên THPT của một số tỉnh phía Nam 1. Tình hình đào tạo Chúng ta có thể khẳng định : Một nền giáo dục không thể phát triển cao hơn trình độ của những người xây dựng nó.
Người thầy giáo có một vị trí cực kỳ quan trọng, nhất là trong thời kỳ mới. Muốn có trò giỏi phải có thầy giỏi. Vì thế trong chiến lược phát triển giáo dục mà chúng ta đang xây dựng phải nêu ra được những yêu cầu mới đối với người thầy giáo. Một trong những khâu then chốt của công cuộc xây dựng đất nước phồn thịnh đó là nguồn nhân lực có trình độ cao được đào tạo qua các trường lớp.
Xây dựng một kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức đào tạo đội ngũ thầy giáo chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng ương quá trình xây dựng và phát triển của trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh được thành lập ngày 27.1976, theo quyết định số 426/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Tiền thân của nó là Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn (thành lập năm 1957). Chức năng và nhiệm vụ của trường là đào tạo đội ngũ giáo viên THPT cho cả nước, nhưng chủ yếu là các tỉnh phía Nam. Năm 1995 Trường là thành viên của Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và từ năm 1999, Chính phủ có quyết định tách Trường ra khỏi Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh để xây dựng thành trường Đại học Sư phạm trọng điểm ở phía Nam với chức năng, nhiệm vụ chính là: 17 - Đào tạo chuẩn mực, chất lượng cao giáo viên có trình độ Đại học cho tất cả các cấp học, ngành học, cung cấp nguồn nhân lực cho các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mẫu giáo tới trung học phổ thông. - Đào tạo những người có trình độ sau đại học để bổ sung và tăng cường chất lượng cho đội ngũ cán bộ của Trường đồng thời cung cấp cán bộ và giảng viên nòng cốt cho các cơ quan quản lý giáo dục, các trường sư phạm và phổ thông đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội. - Đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ và giáo viên các trường phổ thông, các trường cao đẳng sư phạm nhằm tạo điều kiện cho giáo viên không ngừng nâng cao trình độ, tiếp cận với những kinh nghiệm tiên tiến nhất trong việc tổ chức giảng dạy và học tập trong nhà trường. - Nghiên cứu các vấn đề khoa học cơ bản và công nghệ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cũng như chất lượng của các hoạt động đào tạo phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa.
- Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của khoa học giáo dục và sư phạm nhằm góp phần xây dựng chính sách giáo dục của Nhà nước, phục vụ cho chiến lược giáo dục và đào tạo trong giai đoạn từ 2001-2010. Công tác đào tạo: Đây là một công tác trọng tâm của nhà Trường. Quá trình thành lập và xây dựng Trường là một quá trình xác lập mục tiêu đào tạo, phương pháp và kế hoạch đào tạo. Trong hơn 20 năm qua, Trường đã vận dụng đúng đắn đường lối, chủ trương chính sách, các quan điểm của Đảng về giáo dục đào tạo.
Trường đã thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo: Chính qui, chuyên tu, tại chức, mở rộng, đào tạo giáo viên chính qui theo nhu cầu của các địa phương. Từ ngày thành lập đến nay (2001), Trường đã đào tạo và cấp bằng cử nhân cho 30.615 sinh viên, trong đó có 16.681 sinh viên chính qui; 13.934 sinh viên hệ chuyên tu, tại chức; 30 sinh viên Cămpuchia. Qui mô đào tạo của Trường đã gia tăng nhanh chóng. Từ chổ mới có 10 ngành học ban đầu, đến nay Trường đã có 17 chuyên ngành đào tạo hệ Cử nhân đại học, mỗi năm tuyển khoảng 1200 sinh viên hệ chính qui tập trung tại Trường và 800 sinh viên chính qui 18 đào tạo riêng cho một số địa phương còn khó khăn có nhu cầu về giáo viên.
Và hàng năm tuyển sinh đào tạo hơn 2000 sinh viên hệ không chính qui. Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh được Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) giao nhiệm vụ đào tạo giáo viên chủ yếu cho các tỉnh phía Nam. Do đó chúng tôi chỉ thống kê tình hình đào tạo giáo viên cho các tỉnh phía Nam từ Thừa Thiên Huế trở vào trong vòng hơn lo năm qua (lấy mốc từ năm 1990 đến 2001).
số lượng giáo viên Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã đào tạo cho các tỉnh phía Nam (hệ chính qui tập trung dài hạn bằng ngân sách Nhà nước cấp cho trường) theo bảng dưới đây: Bảng thống kê sinh viên tốt nghiệp từ năm 1990-2001 (các tỉnh phía Nam) (Bảng thống kê lập ngày 18/10/2001): Bảng số: 01 Địa Tổng NĂM TỐT NGHIỆP Stt phương số 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000 2001 AN 1 39 5 3 5 1 3 2 9 6 5 GIANG BẠC 2 23 3 1 2 1 1 3 2 5 5 LIÊU BÀ RỊA- 3 249 3 8 3 12 11 11 10 29 27 34 40 61 V.TÀU BẾN 4 404 51 38 45 30 14 12 9 28 34 50 43 50 TRE BÌNH 5 306 60 25 24 19 19 12 18 31 19 31 25 23 DƯƠNG BÌNH 6 26 2 1 2 2 1 4 4 10 ĐINH BÌNH 7 76 9 10 11 24 22 PHƯỚC BÌNH 8 323 37 23 28 8 20 10 11 21 22 44 55 44 THUẬN 9 CÀ MAU 12 3 4 5 CẦN 10 13 2 1 1 1 1 3 4 THƠ ĐẮK 11 126 3 1 5 3 3 4 1 1 9 19 38 39 LẮK ĐÀ 12 54 1 4 2 16 10 10 11 NẴNG ĐỒNG 13 725 40 20 42 46 44 48 41 55 69 97 114 109 NAI ĐỔNG 14 103 16 17 7 6 4 3 2 4 6 8 13 17 THÁP 15 GIA LAI 15 1 2 8 4 KOM 16 4 1 3 TUM KHÁNH 17 94 2 1 6 7 1 2 1 3 2 16 21 32 HÒA 19 KIÊN 18 72 3 3 15 16 5 3 2 5 6 14 GIANG LẦM 19 257 6 7 4 4 7 11 8 10 16 50 69 65 ĐỒNG LONG 20 509 58 41 32 47 28 19 27 34 58 55 58 52 AN NINH 21 78 6 9 2 5 4 5 12 15 20 THUẬN PHÚ 22 31 1 2 2 10 16 YÊN QUẢNG 23 69 2 1 19 28 19 NAM QUẢNG 24 68 3 3 2 1 12 11 18 18 NGÃI SÓC 25 lo 1 5 4 TRĂNG TÂY 26 227 31 13 17 27 20 11 10 10 10 21 33 24 NINH THỪA T. 27 21 1 4 5 5 3 3 HUẾ TIỀN 28 378 38 37 29 22 19 9 11 27 33 49 55 49 GIANG TRÀ 29 19 5 7 1 2 1 1 2 VINH VINH 30 32 2 3 2 3 1 1 3 6 6 5 LONG 31 TP. HCM 2862 230 155 212 234 194 180 247 187 217 284 388 334 Cộng: 7225 588 399 483 514 408 346 410 452 589 858 1109 1069 Phân tích thống kê trên theo các miền ta có: a) Sinh viên tốt nghiệp thuộc các tỉnh miền Đông Nam bộ và TP.
Hồ Chí Minh : 5.103 SV, chiếm tỷ lệ: 70,6 %. b) Sinh viên tốt nghiệp thuộc các tỉnh miền Tây Nam bộ : 1.614 SV, chiếm tỷ lệ: 22,3 %. c) Sinh viên tốt nghiệp thuộc các tĩnh Tây Nguyên, Nam Trung bộ: 508 SV chiếm tỷ lệ: 7,1 %. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 về Giáo dục - Đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu giáo viên cho các địa phương, ngày 29 tháng 9 năm 1997, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Minh Hiển (nay là Bộ Trưởng) đã ký công văn số 8489/KHTC về việc đào tạo giáo viên cho các tỉnh phía Nam, đặc biệt là cho một số tỉnh ở vùng sâu, vùng xa hiện còn thiếu nhiều giáo viên.
Bám sát tinh thần đó, từ tháng 10-1997, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã nhanh chóng phối hợp với các địa phương tổ chức các lớp đào tạo giáo viên theo nhu 20 cầu cụ thể của từng bộ môn còn thiếu nhiều giáo viên. Trong 5 năm qua Trường đã và đang tiến hành đào tạo cho 12 tỉnh phía Nam số lượng sinh viên cụ thể: Bảng : Số lượng sinh viên chính qui đào tạo theo hợp đồng với các địa phương Bảng số: 02 Ngành học Tổng Stt Địa Phương Toán Vật Hóa Sinh Ngữ Lịch Địa Anh GD GD cộng Học lý Học Học Văn Sử Lý Văn CT TC 1 B.Tàu 44 21 12 12 51 6 12 5 163 2 Bình Thuận 75 60 73 59 51 64 382 3 Bình Phước 49 98 51 54 52 304 4 Cà Mau 86 73 65 70 87 381 5 Đồng Nai 50 56 49 123 278 6 Đồng Tháp 59 59 7 Lâm Đồng 151 185 165 501 8 Long An 108 59 50 50 51 318 9 Ninh Thuận 51 47 98 10 Tây Ninh 59 62 26 14 59 48 56 56 380 11 Tiền Giang 106 59 55 55 6 4 59 344 12 Trà Vinh 83 76 151 310 Cộng 729 482 388 338 393 122 231 364 292 179 3,518 Trong số trên có sinh viên hai Tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng sẽ tốt nghiệp vào tháng 8 năm 2002. Ngoài số lượng sinh viên chính qui nêu trên, trong thời gian qua Trường Đại học sư phạm TP.
Hồ Chí Minh còn đào tạo trên 13 ngàn sinh viên chuyên tu, tại chức, hầu hết số sinh viên này cũng là nguồn bổ sung lực lượng giáo viên còn thiếu cho các tỉnh phía Nam. Tình hình sử dụng Qua thống kế ta thấy số lượng sinh viên do Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã đào tạo cung cấp cho các tỉnh phía Nam so với sự phát triển giáo dục của những năm qua, đã phần nào tạm đủ. Tuy nhiên việc sử dụng sinh viên tốt nghiệp trong thời gian qua, đặc biệt là hơn 10 năm gần đây là chưa hợp lý, chưa hiệu quả.
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, những sinh viên tốt nghiệp Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh lên đường nhận nhiệm vụ với tinh thần ba sẵn sàng.