Đặt vấn đề Mối quan tâm hàng đầu ở các vùng, đô thị và khu công nghiệp hiện nay về môi trường ngoài vấn đề thu gom và xử lý rác thải là vấn đề hạn chế và kiểm soát ô nhiễm môi trường không, khí. Bởi lẽ, ô nhiễm không khí cũng rất nguy hại đối với con người và góp phần không nhỏ làm tăng nguyên nhân mắc các chứng bệnh nan y, đồng thời còn gây ra nhiều bất lợi đối với môi trường, thay đổi bất thường về khí hậu và thời tiết. Mức độ ảnh hưởng của nó được tích tụ dân dần và ngày càng trở nên trầm trọng, nhưng rất khó nhận biết được một cách dễ dàng bằng cảm quan hoặc quan sắt trực quan hàng ngày. Bởi vậy nó dường như không gây ra sự nhạy cảm nhiều đối với các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo các cấp chính quyền và công chúng, những người ít liên quan hoặc thậm chí cả những người đang sống ngay.chính trong các vùng mà các số đo về ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép.
Những vấn đề chung về ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm không khí có liên quan tới những tác nhân nhiễm khuẩn như vi rút, vị khuẩn di chuyển trong không khí và những tác nhân khác gây dị ứng, nhiễm doc. Ô nhiễm không khí là kết quả của sự tích tụ một lượng quá mức cho phép thành phần các chất gây hại cho môi trường như CO, CO, (các bon ô xít), NOx, SOx (sulphua 6 xit), cdc chat rin, lỏng lơ lửng do quá trình đốt nhiên liệu, bụi do phương tiện giao thông.gây tác động có hại cho môi trường và sức khoẻ của con người. Ô nhiễm không khí gây ra từ việc sử dụng nhiên liệu than đá, sản phẩm dâu mỏ để chạy các động cơ đốt trong của các cơ sở sản xuất công nghiệp, sử dụng nhiên liệu sinh hoạt của hộ gia đình và vận hành các loại phương tiện giao thông (xem phu luc 1). Thành phần và tác hại của ô nhiễm trong không khí Các chất ô nhiễm vào môi trường không khí được chia thành bao gồm: 1.- Chất ô nhiễm không khí gây kích thích, bao gồm khí SO.
‘ - SO, c6 trong khéng khf, nhất là ở các đô thị, khu công nghiệp tập trung do đốt cháy nhiên liệu có chứa lưu huỳnh (S). Những thí nghiệm đã chỉ ra rằng khi hít thở phải SO; ngay cả ở nồng độ thấp, đôi lúc có thể gây co thất các sợi cơ thăng của phế quản của cả người và động vật. Nông độ SO; lớn sẽ gây ra sự tăng tiết ra chất nhầy ở thành đường hô hấp. Trong một số trường hợp, do trong không khí luôn tồn tại một số chất xúc tác khi gặp sự tác động của ánh sáng mặt trời càng làm tăng tính kích thích.
Trong quá trình đốt cháy nhiên liệu, môi trường đồng thời tạo ra các loại khí SO, và 'SO;. Hai loại khí này tác dụng với hơi nước sẽ tạo thành axit sulpheric (H;SO,), gây nên hiện tượng mưa axÍt và sương mù. Từ lâu, các nhà khoa học môi trường đã chứng minh rằng trong sương mù ở thành phố, nồng độ khí SO; cao hơn rất nhiều so với SO;. Những thực nghiệm đã chứng minh rằng khí SO, khi có tác động của SO; gây ra co thắt rất mạnh ở cơ thể người và động vật ngay cả trong điều kiện có nồng độ thấp.
we - Khf Ozne (O,): ozone ciing cé téc động gây kích thích đường hô hấp và xâm nhập vào phổi sâu hơn so với SO;. Nguồn gốc sinh ra khí ozone trong không khí vẫn chưa rõ. Nhưng khi thí nghiệm trên động vật cho thấy khi hít thở phải O. nồng độ thấp cũng có thể gây ra phù phổi cấp.
Những động vật hít phải liều O; dưới nồng độ gay.chết trong 1 tháng, thành phế quản sẽ phát sinh tổ chức xơ. Ở người khi hít phải O; có thể gặp vài đấu hiệu trong giai đoạn đầu của viêm phế quản mãn.2- Chất ô nhiễm không khí không gây kích thích Những chất làm ôö nhiễm 'không khí không gây kích thích thường gây ảnh hưởng đến cơ thể sau khi chúng được hấp thụ và tích trữ ở một nơi nào đó trong cơ thể. Khi hít vào sẽ ảnh hưởng đến hấp thụ, mức độ hấp thụ những chất bẩn không kích thích có thể thay đổi đo những yếu tố ngẫu nhiên như sự có mặt đồng thời trong không khí có những chất bẩn khác đôi khi có tác dụng kích thích. Thường khi một tác nhân nào đó kích thích phổi, sẽ làm tăng tốc độ hấp thụ vào những tác nhân gây độc khác.
Trong trường hợp có mặt những chất Bây ung thư của không khí, tác động lên đường hô hấp thì tính kích thích của các thành phần chất nhiễm bần khác phụ thêm vào, lại có thể đóng Vai trò quan trọng. Trong trường hop này các tác nhân ˆkích thích có thể đủ mạnh để gây tê liệt biểu mô có nhung mao của phế quản, kéo dài thời gian tiếp xúc gây ung thư trên lớp biểu mô nhạy cảm với các tác động trên. Phần lớn các chất thải rắn, lỏng được thải vào không khí thường bao gồm những phan tử nhỏ có kích thước đủ lớn để lắng đọng xuống mặt đất. Phần còn lại có kích thước nhỏ hơn nhiều, lắng xuống chạm hơn và phụ thuộc vào chuyển động của khí quyển.
Chính những phần rắn, lỏng này lơ lửng trong một thời gian đài có thể xâm nhập vào cơ thể cùng với không khí trong quá trình hít, thở. Những phần rắn, lỏng này có kích thước nhỏ hơn 1 k (micrông) mới có thể đến được phế nang, ngoài ra những phần tử có kích thước từ 1- 0,6 và nhỏ hơn 0,2 4 bị tích tụ lại ở phế nang nhiều nhất. Khả năng tích tụ các chất thải trong không khí phụ thuộc vào tần suất, biên độ hô hấp và. nồng độ bụi rắn, long lơ lửng trong không khí.
Sự hấp thụ những chất rấn lơ lửng trong không khí từ phế nang vào máu được xác định trên cơ sở tính hoà tan của chúng vào dịch thể tổ chức bẻ mặt của nhu mô phổi.3- Chat 6 "nhiễm không khí gãy tác động chung đến cơ thể - Ôxit các bon (CO): Ôxit cac bọn không kích thích và không gay thương tổn niêm mạc, do đó giác quan ít phát hiện ra. Khí ôxit cac bon được tạo thành chủ yếu do đốt cháy không hết hoàn toàn những chất có chứa các bon, mà từ lâu đã được coi như là một chất độc hại có trong không khí. Sự kết hợp chặt chế của CO với ôxy dẫn đến làm giảm khả năng cung cấp ôxy trong máu. -_ Các bon dioxit (CO;): là một loại khí không màu, không vị và không độc do sự đốt cháy các nhiên liệu có chứa các bon và thường chiếm một phần trong môi trường không khí.
Nó được sinh ra do quá trình hô hấp, hấp thụ của động vật, thực vật và con người. Bên cạnh đó CO; còn là một chất khí quan trọng gây ra hiệu ứng nhà kính, làm thay đổi bất thường khí hậu và thời tiết. Tình trạng ô nhiễm môi trường không khí trên thế giới và ở nước ta hiện nay. Ô nhiễm môi trường không khí đô thị đang ngày càng trở nên nghiêm trọng ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp do sự gia tăng nhanh nhanh chóng việc sử dụng nhiên liệu cho sản xuất năng lượng phục vụ cho sản xuất công nghiệp và đời sống, gia tăng phương tiện giao thông vận tải cho nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân.
` Trên thế giới hiện nay, sản xuất và tiêu thụ dầu khí vẫn tiếp tục tăng trưởng. Trong thập kỷ 80 và 90, sản lượng dầu mỏ khai thác đã tăng lên khoảng 9%, khí đốt 39%. Ở châu Á dầu mỏ tăng 10%, khí đốt tăng 166%; châu Âu dầu mỏ tăng 48%, khí đốt tăng 15%. Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương trữ lượng dầu khí chiểm từ 5-6% trữ lượng thế giới.
Than da vẫn giữ vai trò quan trọng của n‡uyên liệu khoáng trong khu vực. Việt Nam, hiện nay mỗi năm đã sản xuất được khoảng 20 triệu tấn đầu thô; tiêu đùng khoảng 53 triệu thing dau, 2 triệu mét khối khí, 7 triệu tấn than. Việc sử dụng nhiên liệu này tất nhiên sẽ Bây nên những tác động không tốt cho môi trường không khí. Tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường không khí là các phương tiện giao thông vận tải, các động cơ tĩnh của các cơ sở sản xuất công nghiệp và sự tiêu dùng chất đốt cho nhu cầu sinh hoạt - của hộ gia đình dân cư đã phát thải vào môi trường không khí các chất nhu: Carbon monoxide (CO), Carbone Dioxide (CO,), Nitrogen Oxide (NO,), Sulphur Dioxide (SO,), Chi (Pb), Hydrocarbon (HC); bui lơ lửng, bụi nặng và tiếng ồn do quá trình vận hành hoặc di chuyển.
Theo số liệu thống kê nhiều năm qua, do nhu cầu vận tải hàng hoá và đi lại của dân cư trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, hiện nay cả nước đã có trên 600.000 xe ô tô các loại và hơn 10 triệu xe gắn máy (tăng hơn 2 lần so với năm 1991). Bên cạnh đó cơ sở hạ tầng giao thông của nước ta những năm vừa qua phát triển không theo kịp với tốc độ tăng của phương tiện giao thông, nên đang trong tình trạng quá tải cầng póp phần làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường nhất là nồng độ bụi trong không khí tại các tuyến đường giao thông và các khu đô thị lớn, Cùng với phương tiện giao thông, máy móc thiết bị sản xuất của các cơ sở sản xuất công nghiệp cũng là một trong những tác nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường không khí ở các đô thị của nước ta. Theo số ¬ liệu thống hiện nay cả nước có hơn 600.00Ố cơ sở sản xuất công nghiệp các loại, trong đó khoảng 80% được xây: dựng trước thời kỳ đổi mới máy móc thiết bị lạc hậu, có hệ số phát thải chất thải cao tính trên đơn vị nhiên liệu tiêu dùng hoặc đơn vị sản phẩm sản xuất; đồng thời hầu như không được trạng bị các thiết bị xử lý chất thải. Khí thải do các cơ sở sản xuất thải ra chứa nhiều chất độc hại đều được xả trực tiếp vào môi trường đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của nhân đân quanh vùng.
Bên cạnh đó, tiêu dùng nhiên liệu cho sinh hoạt đời sống của các hộ gia đình cũng góp phân làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường không khí. Bởi lẽ hiện nay, ở các đô thị tỷ lệ các hộ gia đình sử đụng củi, than tổ ong làm chất đốt cho sinh hoạt vẫn còn cao.