mở đầu lý thuyết các tình huống bằng việc đặt ra nhiệm vụ phải “lý thuyết hóa hoạt động dạy học”, đặt tình huống giảng dạy trong một hệ thống những tác động qua lại giữa HS – GV – môi trường – kiến thức. Trong đó, vai trò của GV được đặc trưng bởi 2 thao tác là quá trình ủy thác và quá trình thể chế hóa. Người HS được coi là chủ thể duy lý. HS được đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với môi trường.
Tháng 4 năm 1991, Claude Comiti [16] cho rằng GV phải tìm ra những tình huống có thể đem lại cho HS một cái nghĩa của kiến thức được đưa ra giảng dạy. Như vậy, ta có thể hiểu rõ hơn về LTTH: việc học là một sự chỉnh lý kiến thức mà HS tự mình sản sinh ra, còn GV chỉ gợi ra sự chỉnh lý đó bằng cách lựa chọn giá trị của các biến tình huống. Hiện nay, phương pháp dạy học tình huống đang ngày càng được các nhà nghiên cứu, giáo dục đào tạo trên thế giới quan tâm và phát triển thành một trong những phương pháp dạy học hiện đại mang lại hiệu quả giáo dục cao. Lịch sử nghiên cứu tình huống ở Lào Ở Lào trong những năm gần đây đang diễn ra một quá trình cải cách tương đối toàn diện trong giáo dục.
Một trong những vấn đề trọng tâm của cải cách là đưa vào sử dụng những phương pháp dạy học hiện đại và phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo. Mặc dù được áp dụng từ khá lâu đời ở các nước phát triển trên thế giới; song phương pháp dạy học tình huống vẫn là phương pháp khá mới đối với Lào. Vì vậy phương pháp này đang được kỳ vọng sẽ đem đến một luồng gió mới cho mối quan hệ dạy - học giữa giáo viên và học sinh để đưa những kiến thức khoa học khô khan trở nên gần gũi với học sinh hơn và tăng khả năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Một số luận án, luận văn, khóa luận nghiên cứu về tình huống trong dạy học hóa học ở Việt Nam a.
- Bùi Thị Mùi (2005), Xây dựng và sử dụng tình huống sư phạm để dạy học phần lý luận giáo dục ở các trường Đại học Sư phạm, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội [35]. - Đoàn Thị Tỵ (2008), Những khó khăn tâm lý trong việc giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên Sư phạm, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, ĐHSP Hà Nội [59]. Luận văn - Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Xây dựng và giải quyết tình huống có vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy Hóa học chương “Sự điện li” lớp 11 PTTH chuyên ban”, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Vinh [29]. - Lê Thị Thanh Chung (1999), Xây dựng hệ thống tình huống có vấn đề để dạy học bộ môn Giáo dục học, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội [17].
12 - Trịnh Thị Huyền (2004), Sử dụng dạy học nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạy các khái niệm, định luật và học thuyết hoá học cơ bản trong chương trình hóa học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Vinh [30]. - Nguyễn Thị Định (2009), Vận dụng lý thuyết tình huống trong dạy học một số nội dung của chương trình đại số lớp 11, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội [21]. - Nguyễn Thị Minh Tâm (2011), Sử dụng lý thuyết tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Tp. - Ngô Nhã Trang (2011), Thiết kế hệ thống tình huống trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Tp.
- Phan Thị Như Lê (2011), Sử dụng phương pháp tình huống trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Tp. Khóa luận - Cao Thị Minh Huyền (2010), Xây dựng hệ thống tình huống có vấn đề trong dạy học hoá học lớp 11 THPT, Khoá luận tốt nghiệp, ĐHSP Tp. - Nguyễn Thảo Nguyên (2010), Xây dựng hệ thống tình huống có vấn đề trong dạy học hóa học lớp 10 THPT, Khoá luận tốt nghiệp, ĐHSP Tp. Trong hệ thống tình huống dùng cho môn Hóa học ở trường THPT, các tác giả đã quan tâm giới thiệu qui trình thiết kế và qui trình sử dụng tình huống mà chưa xây dựng được qui trình dạy học môn Hóa học bằng phương pháp dạy học tình huống một cách rõ ràng, chi tiết.
Nhất là chưa quan tâm thiết kế tình huống theo các cách phân loại tình huống và chưa đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tình huống trong dạy học hóa học ở trường THPT một cách cụ thể. Trong những luận văn, khóa luận của các tác giả đã trình bày ở Việt Nam thì việc nghiên cứu lý thuyết tình huống, phương pháp dạy học tình huống chủ yếu thiên về các tình huống có vấn đề. Mặc dù, phương pháp dạy học tình huống rất gần với phương pháp giải quyết tình huống có vấn đề, nhưng hai phương pháp này có nhiều 13 điểm khác nhau. Phương pháp dạy học bằng tình huống có phạm vi ứng dụng rộng hơn, kĩ thuật tiến hành phức tạp hơn; nếu biết cách thực hiện thì hiệu quả cao hơn nhiều phương pháp dạy học giải quyết tình huống có vấn đề.
Mặt khác, những tình huống được thiết kế của các tác giả trên vẫn chưa có sự hướng dẫn người học lẫn người dạy cách thức sử dụng tình huống hoặc cách thức phối hợp với các phương pháp khác để phát triển kỹ năng hoạt động của học sinh nhằm tạo hiệu quả dạy học cao nhất. Chính vì vậy, tác giả quyết định xây dựng luận văn thạc sĩ theo hướng thiết kế hệ thống các tình huống có nội dung gắn với thực tiễn với mục đích vừa cung cấp kiến thức, vừa rèn khả năng tư duy và trang bị cho học sinh những kỹ năng giải quyết vấn đề giúp học sinh yêu thích môn học hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Hóa học. Đổi mới phương pháp dạy học 1. Khái niệm đổi mới phương pháp dạy học Theo PGS TS Trịnh Văn Biều [6], PPDH là một trong những thành tố quan trọng của quá trình dạy học.
Cùng một nội dung nhưng HS có hứng thú, tích cực hay không, có hiểu bài một cách sâu sắc hay không, phần lớn phụ thuộc vào PPDH của người thầy. PPDH có tầm quan trọng đặc biệt nên nó luôn luôn được các nhà giáo dục quan tâm. Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier :“ Đổi mới PPDH là cải tiến những hình thức và cách thức làm việc kém hiệu quả của giáo viên và học sinh, sử dụng những hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực của học sinh”[14]. Phương pháp dạy học là một phạm trù của khoa học giáo dục.
Việc đổi mới PPDH cần dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Tùy theo mỗi cách tiếp cận khác nhau có thể có những quan điểm khác nhau về đổi mới PPDH. Vì vậy có những định hướng khác nhau và biện pháp khác nhau trong việc đổi mới PPDH và không có công thức chung duy nhất cho việc đổi mới. Trong thực tiễn cần xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể để xác định và áp dụng những định hướng và biện pháp thích hợp.
14 Đổi mới PPDH đối với giáo viên, bao gồm: - Đổi mới việc lập kế hoạch dạy học, thiết kế bài dạy; - Đổi mới PPDH trên lớp học; - Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. - Đổi mới PPDH đối với học sinh là đổi mới phương pháp học tập. - Đổi mới PPDH cần được tổ chức, lãnh đạo và hỗ trợ từ các cấp quản lý giáo dục, đặc biệt là các trường phổ thông qua những biện pháp thích hợp. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ở Việt Nam Định hướng đổi mới trong phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12- 1996), trong yêu cầu của Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2001-2010, được thể chế hoá trong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4-1999).
Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể đào tạo lớp gười năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức. Ở Lào: Định hướng đổi mới trong phương pháp dạy và học ở nước Lào đã được xác định trong Nghị quyết của Bộ Giáo dục và Thể thao.
Giai đoạn thứ nhất, chỉ thị số: 009/ ngày 7 tháng 7 năm 1992 Hội đồng giáo dục quốc gia và trong cuộc họp Đảng lần thứ 4 và lần thứ 5 đã có kế hoạch về phát triển nguồn nhân lực và việc giáo dục đi trước 15 một bước. Giai đoạn thứ hai, chỉ thị số 84 ngày 21 tháng 11 năm 2006 về quy trình phát triển giáo dục từ năm 2006-2015 để phát triển việc giáo dục như: - Sự phát triển là việc rất quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực để có chất lượng tốt hơn để đáp ứng nhu cầu định hướng công nghiệp hóa và hiện hóa từng bước, làm cho việc cơ sở phát triển kinh tế-xã hội bền vững. - Sự phát triển giáo dục phải gắn bó tính khoa học, quần chúng và hiện đại, để dần dần bước vào tiêu chuẩn giáo dục địa phương, khu vực và quốc tế từng bước , gắn bó với thực tế nước nhà. - Đào tạo nguồn nhân lực Lào cho phát triển toàn diện những công dân có văn hóa, có giáo dục, có kiến thức, có nghề nghiệp, có kỹ năng sáng tạo và có sự tích cực trong việc phát triển Tổ quốc như: tự phát triển mình để có sức khỏe mạnh và có đạo đức trong sạch để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển Tổ quốc trong chế độ mới.