CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề chung về đoạn văn 1. Khái niệm đoạn văn Có nhiều quan niệm về đoạn văn: Tác giả Lê Phương Nga cho rằng: Đoạn văn là một bộ phận của văn bản bao gồm một số câu liên kết với nhau chặt chẽ, thể hiện một cách tương đối trọn vẹn về một tiểu chủ đề. Đoạn văn có một cấu trúc nhất định và được tách ra khỏi đoạn văn khác bằng dấu hiệu chấm xuống dòng, bắt đầu bằng chữ cái viết hoa, viết thụt đầu dòng.235] Tác giả Diệp Quang Ban quan niệm rằng: Đoạn văn thông thường được hiểu là một phần của văn bản tính từ chỗ viết hoa, thường lùi vào ở đầu dòng, cho đến chỗ dấu chấm xuống dòng.
hoặc đoạn văn là một phần của văn bản viết, tính theo chỗ xuống dòng, thường chỉ ra các nhóm họp các ý chung quanh một ý chính (có thể coi là một đơn vị của ngôn ngữ nói chung). Trong tiếng Việt, một “đoạn văn”thường được bắt đầu bằng một dòng mới chỗ lùi đầu dòng và viết hoa chữ cái đầu tiên.206] Quan niệm về đoạn văn của tác giả Diệp Quang Ban có phần rộng hơn tác giả Lê Phương Nga. Theo Diệp Quang Ban, về kích thước, đoạn văn có thể gồm nhiều câu, hoặc có thể chỉ được làm từ một câu và câu này có thể là một từ hoặc cũng gặp đoạn văn được làm thành từ một “câu” không trọn vẹn (chỉ tương đương với một bộ phận nào đó của một câu thường gặp). Chẳng hạn phải coi phần trích sau đây gồm 3 đoạn văn: [1] Anh càng hết sức để hát, để đàn và để.
không ai nghe. [3] Đường càng vắng ngắt, Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao su kín 10 mít như bưng, lép nhép chạy uể oải.290] Tác giả Nguyễn Quang Ninh quan niệm như sau: Khi đoạn văn đạt đến mức độ tương đối hoàn chỉnh về nội dung, đoạn văn đó sẽ có những đặc điểm kết cấu đồng dạng ở mức cao nhất với văn bản. Trong trường hợp này mỗi đoạn văn là một đoạn ý (hay nội dung). Ngược lại, đoạn văn không còn sự hoàn chỉnh về nội dung được gọi là đoạn lời (hay đoạn diễn đạt).
[24] Tác giả Nguyễn Quang Ninh cũng đưa ra hai tiêu chí về hình thức và nội dung để giúp nhận biết một đoạn văn. Trong luận văn này, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc rèn luyện viết đoạn văn cho HS lớp 3, chúng tôi đã lựa chọn quan điểm của tác giả Lê Phương Nga khi cho rằng: Đoạn văn là một bộ phận của văn bản bao gồm một số câu liên kết với nhau chặt chẽ, thể hiện một cách tương đối trọn vẹn về một tiểu chủ đề. Nó có một cấu trúc nhất định và được tách ra khỏi đoạn văn khác bằng dấu hiệu chấm xuống dòng và bắt đầu bằng chữ cái viết hoa, viết thụt đầu dòng để hướng dẫn HS lớp 3 viết đoạn văn. Các loại đoạn văn Có nhiều tiêu chí phân loại đoạn văn, trong luận văn này, chúng tôi dựa vào tiêu chí cấu trúc để phân thành các loại đoạn sau: a.
Đoạn văn có cấu trúc diễn dịch Đây là kiểu đoạn văn có câu chủ đề đứng ở vị trí đầu tiên của đoạn, các câu sau nhằm phát triển ý của câu chủ đề. Ví dụ: Tập thơ “Nhật kí trong tù” có nghệ thuật viết rất phong phú. Có bài là lời phát biểu trực tiếp, đọc hiểu ngay. Có bài lại dùng lối ngụ ngôn viết rất thâm thuý.
Có bài tự sự. Có bài trữ tình hay vừa tự sự vừa trữ tình. Lại có bài châm biếm. Đoạn văn có cấu trúc quy nạp Đây là kiểu đoạn văn có các câu trước nói lên các ý riêng, câu chủ đề 11 đứng ở vị trí cuối cùng của đoạn, trình bày ý chỉ cái chung.
Ví dụ: Chính quyền nhân dân ta vững chắc. Quân đội nhân dân hùng mạnh. Mặt trận dân tộc rộng rãi. Công nhân, nông dân và trí thức rèn luyện thử thách và tiến bộ không ngừng.
Nói tóm lại: lực lượng của chúng ta to lớn và ngày càng to lớn. Đoạn văn có cấu trúc tổng phân hợp Đây là kiểu đoạn văn vừa có câu đề mở đoạn vừa có câu đề kết đoạn. Cả hai cùng chung nêu đề tài - chủ đề của đoạn một cách hoàn chỉnh hơn. Trong những trường hợp như vậy, thông thường câu đề kết có nội dung ý cao hơn câu đề mở.
Ví dụ: Trong xã hội “Truyện Kiều”, đồng tiền đã trở thành một sức mạnh tác quái rất ghê. Nguyễn Du không phải không nhắc đến tác dụng tốt của đồng tiền. Có tiền Thúc Sinh, Từ Hải mới chuộc được Kiều. Kiều mới cứu được cha và sau này mới báo được ơn cho người này người nọ.
Đó là những khi đồng tiền nằm trong tay người tốt. Nhưng chủ yếu Nguyễn Du vẫn nhìn về mặt tác hại. Vì Nguyễn Du thấy rõ hơn cả một loạt hành động gian ác bất chính đều do đồng tiền chi phối. Quan lại vì tiền mà bất chấp công lí; sai nha vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người; Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm; Khuyển Ưng vì tiền mà làm những điều ác.
Cả xã hội chạy theo tiền. Đoạn văn có cấu trúc móc xích Là đoạn văn không có câu chủ đề. Các câu trong đoạn được sắp xếp theo lối móc xích (đề - thuyết). Về phương diện liên kết, đoạn văn có cấu trúc móc xích thường gặp phương thức lặp từ vựng và phương thức quy chiếu.
Ví dụ: Nguyễn Trãi sẽ sống mãi trong trí nhớ và tình cảm của người Việt Nam ta. Và chúng ta còn phải làm cho tên tuổi và sự nghiệp Nguyễn Trãi rạng rỡ ra ngoài bờ cõi nước ta. Đoạn văn có cấu trúc song hành Đoạn văn này không có câu chủ đề, các câu trong đoạn được sắp xếp theo lối song hành. Ví dụ: Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học.
Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Đoạn văn có cấu trúc tối giản Đoạn văn có cấu trúc tối giản là đoạn văn chỉ có một câu. Ví dụ: Ví dụ sau gồm 2 đoạn văn thì chỉ có đoạn số (2) là đoạn văn có cấu trúc tối giản.
(1) Trong năm học vừa qua, từ khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng các thầy giáo và cán bộ đã cố gắng nhiều. Các cháu học trò đã có nhiều tiến bộ khá. Nhà trường đông đúc vui vẻ. Đó là một thành tích đáng mừng.
(2) Nhưng đó mới là bước đầu. Cấu tạo của đoạn văn - Thông thường đoạn văn được cấu tạo làm 3 phần: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. + Phần mở đoạn giới thiệu về đối tượng cần trình bày trong đoạn. + Phần thân đoạn triển khai nội dung đoạn văn.
+ Phần kết đoạn kết thúc lại vấn đề. Việc tìm hiểu các kiểu cấu trúc và cấu tạo của đoạn văn sẽ giúp ích nhiều cho việc luyện viết đoạn văn cho HS lớp 3. Khái quát chung về văn miêu tả 1. Khái niệm văn miêu tả Miêu tả hay gọi tắt là tả, là từ tốn khá nhiều giấy mực của nhiều tác giả.
Theo Phạm Hổ, miêu tả được hiểu là một hoạt động của tri thức nhằm tái hiện lại, vẽ lại một cách chân thực, sống động những gì chúng ta thấy, 13 nghe, ngửi, sờ, … của một sự vật, hiện tượng. [15] Theo Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Ninh “Khi đọc những gì chúng ta viết, người đọc như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, một con vật, một dòng sông…Người đọc còn có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, …”. [15] “Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người”, đây là cách hiểu của tác giả Hoàng Phê. [31] Miêu tả theo Phạm Minh Diệu là một loại hành vi gồm miêu tả bằng lời và không bằng lời.
Chất liệu ngôn từ chi phối đặc trưng của VMT. [8] SGV Tiếng Việt 4 quan niệm về VMT như sau: VMT là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật, giúp người đọc người nghe có thể hình dung được các đối tượng ấy.140] Thực tế cho thấy rằng miêu tả luôn được sử dụng trong nhiều loại hình nghệ thuật. Trong hội họa các họa sĩ lấy đường nét làm chất liệu để miêu tả sự vật. Trong âm nhạc giai điệu chính là linh hồn.
Và trong văn chương thì ngôn ngữ chính là cốt vật chất để miêu tả. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu VMT như sau: “VMT là một loại văn bản dùng lời văn có hình ảnh nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,.làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe”. Đặc điểm văn miêu tả Văn miêu tả không thể sử dụng trực tiếp các đường nét, màu sắc hay âm thanh. do lấy ngôn từ làm chất liệu để tái hiện lại đối tượng.
Vì vậy, người đọc không thể trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy. hình tượng miêu tả như trong hội họa và âm nhạc. Nhưng hơn thế, VMT lại có thể sử dụng tình cảm, trí tuệ, nhờ trí tưởng tượng phong phú và ngôn từ để nhào nặn, sáng tạo lại các đối tượng, dựa trên những kết quả quan sát, kinh nghiệm của người viết. 14 VMT tồn tại ở nhiều lĩnh vực.
Trong mỗi lĩnh vực, VMT có những đặc điểm khác nhau: Trong lĩnh vực khoa học, VMT có tính chân thật, chính xác, khách quan và trí tuệ. Trong lĩnh vực văn học - nghệ thuật, theo tác giả Nguyễn Trí [38], VMT có những đặc điểm sau: - VMT mang tính thông báo, tính thẩm mĩ và chứa đựng tình cảm của người viết: VMT không sao chép cuộc sống một cách máy móc, khô cứng mà là kết quả của sự sáng tạo phong phú từ trí tưởng tượng của người viết. Chính vì vậy mà trong từng chi tiết của bài, VMT đều mang đậm dấu ấn cá nhân và phụ thuộc vào cảm xúc, tư tưởng, tình cảm cũng như khả năng ngôn ngữ của từng người viết. - VMT mang tính sinh động, tạo hình khiến cho đối tượng được miêu tả hiện lên sinh động như trong đời sống thực.
- Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc, hình ảnh. Đây là điểm khác giữa VMT với các thể loại văn bản khác. Ngôn ngữ VMT giàu cảm xúc vì khi tả một đối tượng nào, người viết luôn bộc lộ tình cảm cảm, cảm xúc của mình trước đối tượng đó.