Chương 1 Kiến thức cơ bản về phương pháp quy nạp toán học 1.1 Nguồn gốc của phương pháp quy nạp toán học (Trích trong tài liệu tham khảo [11]) Khi ta tính một số trong tam giác Pascal bằng cách áp dụng công thức truy toán, ta phải dựa vào hai số đã tìm được trước ở cạnh đáy trên. Phép tính độc lập dựa vào công thức quen thuộc n(n − 1)(n − 2).r mà ta sẽ gọi là công thức tường minh để tính các hệ số của nhị thức Cnr. Công thức tường minh đó có trong công trình của Pascal (trong đó nó được diễn đạt bằng lời chứ không phải bằng các kí hiệu hiện đại). Pascal không cho biết ông làm thế nào để ra công thức đó (có thể lúc đầu chỉ là phỏng đoán- ta thường phát hiện ra các quy luật tương tự nhờ quan sát lúc đầu, rồi sau đó thử khái quát các kết quả có được).
Tuy vậy, Pascal đưa ra một cách chứng minh xuất sắc cho công thức tường minh của mình. Công thức tường minh dưới dạng đã viết không áp dụng được trong trường hợp r = 0. Tuy vậy, ta quy ước khi r = 0, theo định nghĩa Cn0 = 1. Còn trong trường hợp, r = n thì công thức không mất ý nghĩa và ta có n(n − 1)(n − 2).(n − 1)n 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đó là một kết quả đúng.
Như vậy, ta cần chứng minh công thức đúng với 0 < r < n, tức là ở bên trong tam giác Pascal công thức truy toán có thể sử dụng được. Tiếp theo ta trích dẫn Pascal với một số thay đổi không căn bản. Một phần những thay đổi đó ở giữa các dấu ngoặc vuông. Mặc dù mệnh đề đang xét (công thức tường minh đối với các hệ số nhị thức) có vô số trường hợp riêng, tôi chứng minh nó một cách hoàn toàn ngắn gọn dựa trên hai bổ đề.
Bổ đề thứ nhất khẳng định, mệnh đề đó đúng với đáy thứ nhất- điều này là hiển nhiên (khi n = 1 công thức tường minh đúng vì trong trường hợp đó mọi giá trị có thể được của r, nghĩa là r = 0, r = 1 rơi vào điều đã nhận xét ở trên) Bổ đề thứ hai khẳng định, nếu mệnh đề đúng với một đáy tùy ý [đối với giá trị n tùy ý] thì nó sẽ đúng với đáy tiếp theo của nó [đối với n + 1]. Từ hai bổ đề trên, ta suy ra được sự đúng đắn của mệnh đề đối với mọi giá trị của n. Thật vậy, do bổ đề thứ nhất, mệnh đề đúng với n = 1. Do đó, theo bổ đề thứ hai nó đúng với n = 2, cho nên theo bổ đề thứ hai nó đúng với n = 3 và cứ như thế đến vô hạn.
Như vậy, ta chỉ còn phải chứng minh bổ đề thứ hai. Theo cách phát biểu của bổ đề đó, ta giả thiết công thức của ta đúng đối với đáy thứ n, nghĩa là đối với giá trị tùy ý n và với mọi giá trị có thể được của r (đối với r = 1, 2,. Đặc biệt đồng thời với cách viết n(n − 1)(n − 2).(n − r + 2) n − r + 1 Cn+1 = Cnr + Cnr−1 = .r 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nói cách khác, sự đúng đắn của công thức tường minh đối với giá trị n nào đó kéo theo tính đúng đắn của nó đối với n + 1. Chính điều này được khẳng định trong bổ đề thứ hai.
Như vậy, ta đã chứng minh được bổ đề đó. Những lời của Pascal trích dẫn có một giá trị lịch sử vì chứng minh của ông là sự vận dụng lần đầu tiên của một phương pháp suy luận cơ bản và mới mẻ, thường gọi là phương pháp quy nạp toán học.2 Quy nạp và quy nạp toán học (Trích trong tài liệu tham khảo [10]) Quy nạp là một quá trình nhận thức những quy luật chung bằng cách quan sát và so sánh những trường hợp riêng. Nó được dùng trong các khoa học và cả toán học. Còn như quy nạp toán học thì chỉ dùng trong toán học để chứng minh một loại định lý nào đó.
Thật không may ở chỗ hai tên gọi lại liên quan với nhau, vì rằng giữa hai phương pháp này hầu như không có một liên hệ lôgic nào. Tuy nhiên, cũng có một liên hệ thực tế vì người ta thường đồng thời dùng hai phương pháp đó. Ta minh họa hai phương pháp đó bằng ví dụ sau. Một cách ngẫu nhiên, ta thấy 1 + 8 + 27 + 64 = 100 có thể viết lại như sau 13 + 23 + 33 + 43 = 102.
Khi đó ta tự hỏi là tổng những lập phương các số tự nhiên liên tiếp có luôn luôn là một bình phương không? Để trả lời câu hỏi đó, ta sẽ làm như nhà tự nhiên học, tức là đi kiểm tra những trường hợp riêng khác nhau, lần lượt với n = 1, n = 2, n = 3, n = 5. Qua đó, nhà tự nhiên không nghi ngờ gì về tính đúng đắn của quy 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật tổng quát suy ra từ những trường hợp riêng đã quan sát. Nhà toán học nói phép quy nạp đã gợi ý cho ta định lý sau: "Tổng của n lập phương đầu tiên là một bình phương". Tại sao tổng các lập phương liên tiếp lại là những bình phương? Trong trường hợp này, nhà tự nhiên học tiếp tục nghiên cứu giả thuyết của mình và có thể đi theo nhiều hướng khác nhau.
Tiếp tục xét tới những trường hợp n = 6, 7. Nhà tự nhiên học cố rút ra một quy luật sâu sắc hơn. Ta nhận thấy quy luật của dãy số 1, 3, 6, 10, 15 1=1 3=1+2 6=1+2+3 10 = 1 + 2 + 3 + 4 15 = 1 + 2 + 3 + 4 + 5. Từ đó ta dự đoán 13 + 23 + 33 + · · · + n3 = (1 + 2 + · · · + n)2.
Chính nhờ quy nạp ta đã có được quy luật trên. Thật ra, cả quá trình lí luận, dù chỉ mới một chiều và chưa hoàn chỉnh hợp lí đã cho ta hình dung được phương pháp đó (quy nạp). Phép quy nạp cố gắng phát hiện ra các quy luật và các liên hệ ẩn giấu đằng sau các hiện tượng quan sát được bề ngoài. Nhiều kết quả toán học thoạt tiên có được bằng quy nạp, sau đó mới được chứng minh.
Toán học trình bày chặt chẽ là một khoa học suy diễn, có hệ thống, nhưng toán học trong lúc hình thành là một khoa học thực nghiệm, quy nạp. Trong toán học cũng như trong các khoa học tự nhiên, ta có thể dùng quan sát và quy nạp để khám phá ra những quy luật tổng quát, nhưng giữa chúng có sự khác nhau. Trong các khoa học tự nhiên, không có gì cao hơn sự quan sát và quy nạp, còn trong toán học ngoài quan sát và quy nạp còn có sự chứng minh chặt chẽ. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ta xét "bài toán chứng minh" n(n + 1) 1 + 2 + 3 + ··· + n =.
2 Trong mọi trường hợp, hệ thức đó đều dễ nghiệm lại. Xét một hình chữ nhật có các cạnh bằng n và n + 1, chia nó làm hai phần bằng một đường gấp khúc như ở hình 1. Mỗi nửa đều có "dạng bậc thang" và có diện tích biểu diễn bởi công thức 1 + 2 + · · · + n.1 Trường hợp n = 4, diện tích đó bằng 1 + 2 + 3 + 4 hình 1. Mặt khác, diện tích hình bậc thang là một nửa diện tích hình chữ nhật đó, điều đó chứng tỏ công thức đúng.
Như vậy, ta có thể biến đổi kết quả tìm ra bằng phương pháp quy nạp và biểu diễn nó như sau [ ]2 n(n + 1) 13 + 23 +. Nếu ta không có cách nào để chứng minh, thì ta cũng có thể thử lại. Ta thử cho trường hợp đầu tiên, tức là thử với n = 6 và thấy đẳng thức đúng. Ta cũng có thể thử nữa.
Công thức có lẽ là tổng quát, tức là đúng với mọi giá trị của n. Nhưng nó có còn đúng không khi ta đi từ một giá trị n đến bất kì tới giá trị tiếp theo là n + 1. Áp dụng công thức trên ta phải có [ ] 3 3 3 3 (n + 1)(n + 2) 2 1 + 2 + .2) 2 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ta lấy (1.2) trừ từng vế (1.3) 2 2 Vế phải có thể viết lại như sau ( ) n+1 2[ 2 ] (n + 2) − n2 2 ( ) n+1 2[ 2 ] = n + 4n + 4 − n2 2 (n + 1)2 = (4n + 4) = (n + 1)3. 4 Như vậy công thức tìm ra bằng thực nghiệm đã được thử lại chặt chẽ.
Ta hãy làm rõ ý nghĩa của phép thử. Nhưng ta còn chưa biết chắc đẳng thức sau có đúng không [ ] 3 3 3 n(n + 1) 2 1 + 2 +. 2 Nhưng nếu ta biết rằng nó đúng thì có thể suy ra bằng cách thêm vào đẳng thức đã thiết lập ở trên, rằng đẳng thức sau cũng đúng [ ] 3 3 3 3 (n + 1) (n + 2) 2 1 + 2 +. 2 Đó chính là biểu thức (1.1), chỉ khác là n + 1 thay thế cho n.
Nhưng ta đã biết điều giả định của ta là đúng với n = 1, 2, .6, đúng với n = 6, nên cũng phải đúng với n = 7, đã đúng với n = 7 thì cũng phải đúng với n = 8 và cứ tiếp tục như vậy nên công thức đúng với mọi giá trị của n. Vậy nó là tổng quát. Chứng minh trên có thể xem là mẫu mực cho nhiều trường hợp tương tự. Vậy những nét cơ bản của nó là gì? Điều khẳng định mà ta cần chứng minh phải được phát biểu rõ ràng, chính xác.
Nó phụ thuộc vào một số tự nhiên n. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều khẳng định đó phải được "xác định" đến mức khiến ta có thể thử được là nó còn đúng không khi đi từ một số tự nhiên n sang một số tự nhiên tiếp theo n + 1. Nếu ta đã thử được có kết quả điều đó, thì ta có thể dùng kinh nghiệm có được trong quá trình thử để đi đến kết luận điều khẳng định phải đúng với n + 1, nếu như nó đã đúng với n. Có được điều đó rồi, ta chỉ cần biết rằng điều khẳng định đúng với n = 1, khi đó nó sẽ đúng với n = 2, rồi với n = 3 và cứ thế tiếp tục.