MỞ ĐẦU Từ lâu người ta đã biết đến ma túy là những chất có tác dụng làm thay đổi trạng thái tâm lý và sinh lý của người sử dụng, có khả năng bị lạm dụng và gây ra sự phụ thuộc về tâm — sinh lý vào việc sử dụng các chất đó. Khi ngừng dùng chất ma túy, người nghiện thường không kiểm soát được hành vi của mình, tìm mọi cách để có ma túy sử dụng tiếp, có khuynh hướng gia tăng liều lượng nhằm thỏa mãn trạng thái tỉnh thần, cảm giác mong muốn. Đó là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm hình sự như trộm cắp, giết người, cướp của, mại dâm, và cũng là nguyên nhân của rất nhiều tội phạm kinh tế như buôn lậu, gian lận, tham nhũng. Lợi dụng chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, tội phạm đã tìm mọi cách nhập lậu ma tuý qua biên giới, biến nước ta thành địa bàn sử dụng và trung chuyển ma tuý phức tạp.
Hiện nay các chất ma tuý nhóm cathinone tông hợp có tác dụng kích thích thần kinh trung ương như một trào lưu mới đang ngảy cảng được giới trẻ sử dụng nhiều. Trong tự nhiên, cathinone là hoạt chất có trong lá khat, có tác dụng kích thích thần kinh trung ương. Do khoa học kỹ thuật phát triển nên các nhà khoa học đã tạo ra nhiều cathinone tổng hợp dé dùng trong y học. Tuy nhiên, do tính kích thích thần kinh trung ương nên nhiều cathinone tông hợp bị lạm dụng với mục đích ma túy.
Đề thuận tiện cho việc sử dụng, cất giấu và vận chuyền, cathinone tổng hợp được bào chế dưới dạng viên nén. Điển hình như các mẫu viên nén nhóm ma túy cathinone tổng hợp: Mephedrone, Alpha-PVP, N-ethylpentylone và MDPV với số lượng lớn thu được từ các vụ án. Các chất ma tuý nhóm cathinone tổng hợp xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ 21. Đến tháng 7 năm 2012, Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) đã thống kê được 251 chất hướng thần mới (Novel Psychoactive Substances — NPS) được báo cáo từ 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Đến tháng 7 năm 2015, theo báo cáo của 95 quốc gia đã có hơn 500 chất hướng thần mới. Trong hơn mười ba năm vừa qua, ngày càng có xu hướng ra tăng việc sử dụng các chất NPS cho mục đích giải trí [1]. NPS trở lên hấp dẫn với người dùng vì chúng có ảnh hưởng giống như các chất ma tuý truyền thống như cocaine, các chất kích thích dạng amphetamine (amphetamine, methamphetamine, các chất giống thuéc lac) hay lysergic acid diethylamide (LSD) nhưng lại không được đưa vào danh mục trong các công ước kiểm soát ma tuý, do đó không được kiểm soát quốc tế [2-4]. Số liệu của UNODC cũng chỉ ra, các chất NPS trong giai đoạn 2008 — 2015 thì cannabinoid tổng hợp (chiếm 34%), phenethylamines (chiếm 20%) và cathinone tổng hợp (chiếm 17%).
Tính đến thang 11 nam 2019, hon 160 chất thuộc nhóm cathinone tổng hợp đã được báo cáo cho Tư vấn Cảnh báo Sớm của UNODC (UNODC EWA). Tính đến tháng 11 năm 2019, hơn 160 chất thuộc nhóm cathinone tông hợp đã được báo cáo cho UNODC EWA (Tư vấn Cảnh báo Sớm của UNODC). Đây cũng là thời gian mà các tác giả tập trung nhiều công sức nghiên cứu về các chất nhóm cathinone tổng hợp trong mẫu bắt được và mẫu sinh học. Tùy theo điều kiện thiết bị và tính chất của các phòng thí nghiệm khác nhau, cũng như yêu cầu pháp luật của mỗi nước mà các tác giả nghiên cứu trên các thiết bị khác nhau, các đối tượng mẫu khác nhau hoặc cùng phương pháp nhưng với các kỹ thuật hiện đại như sắc ký khí, sắc ký khí khối phổ [5, 6].
Việc lạm dụng các chất kích thích nhóm cathinone tổng hợp đã trở thành một mối đe dọa lớn đối với sức khỏe. Các chất nhóm cathinone tổng hợp được sản xuất đáp ứng nhu cầu của người sử dụng ma túy phục vụ giải trí như là một giải pháp thay thé phù hợp cho cocaine, thuốc lắc (3,4- Methylenedioxymethamphetamine - MDMA) va amphetamines. Cac nghién cuu gan đây đã khẳng định việc sử dụng các chất kích thích nhóm cathinone tổng hợp gây ra các triệu chứng tâm thần nghiêm trọng và có thê tử vong. Các cách sử dụng phô biến gồm cách hít, uống hoặc tiêm tĩnh mạch.
Đa số các chất nhóm cathinone tổng hợp có tác dụng kích thích thần kinh tương tự như methamphetamine và MDMA [6]. Các dấu hiệu và triệu chứng của việc lạm dụng các chất nhóm cathinone tổng hợp như bắt thường về tim mạch, mắt ngủ, kích động, lo lắng, ảo tưởng, ảo giác, co thắt cơ, co giật, hoang tưởng nặng. Thời gian tác dụng kích thích của các thuốc này là khoảng 3 đến 4 giờ. Các tác dụng phụ nghiêm trọng như tăng huyết áp, suy thận, co giật, co that co bap, ton thương cơ bắp, mất kiểm soát ruột, ảo giác và ảo tưởng, hiếu chiến, chứng hoang tưởng nặng, các cơn hoảng loạn, nhiệt độ cơ thể tăng mạnh.
Tác dụng phụ ngắn, ít nghiêm trọng hơn là tăng nhịp tim, dau ngực, kích động, mắt ngủ, chảy máu cam. Trên thế giới, nhiều tác giả tập trung nghiên cứu về các chất nhóm cathinone tổng hợp trong mẫu bắt được và mẫu sinh học. Tùy theo điều kiện thiết bị và tính chất của các phòng thí nghiệm khác nhau, cũng như yêu cầu pháp luật của mỗi nước mà các tác giả nghiên cứu trên các thiết bị khác nhau, các đối tượng mẫu khác nhau hoặc cùng phương pháp nhưng với các kỹ thuật hiện đại như sắc ký khí, sắc ký khí khối phổ [4, 5, 7, 8]. Từ năm 2016-2019, Viện Khoa học hình sự đã giám định và phát hiện 6 chất mới thuộc nhóm này gồm: 1-(1,3-benzodioxol-5-yl)-2-(1-pyrrolidinyl)-1- butanone; I1-(1,3-benzodioxol-5-yl)-2-(benzylamino)propan-l-one; I-(4- chlorophenyl)-2-(ethylamino)propan- Í -one; 3',4'-Methylenedioxy-a- pyrrolidinobutiophenone (MDPBP), BMDP, 4-CEC, Eutylone va Alpha- ethylaminohexanophenone (chủ yếu xuất hiện ở dạng viên nén với nhiều logo và hình dạng khác nhau).
Trước tình hình đó, các Nghị định của chính phủ đã bé sung thém nhiéu chất ma túy thuộc nhóm cathinone tông hợp. Theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Việt Nam có 13 chất ma túy và Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ đã bổ sung thêm 6 chất ma túy thuộc thuộc nhóm cathinone tổng hợp [9, 10]. Tuy nhiên, cho đến nay tại Việt Nam chưa có một công trình nào nghiên cứu nào về xây dựng và phát triển các quy trình phân tích, kỹ thuật giám định các chất ma túy nhóm cathinone tổng hợp trong các mẫu viên nén, tang vật thu giữ tại các vụ án, chuyên án. Tất cả các mẫu vật đều phải chuyên về Viện Khoa học hình sự để phân tích.
Việc phân tích tốn nhiều thời gian, kinh phí và đều phụ thuộc vào kinh nghiệm, sự mày mò của giám định viên kết hợp với sự hỗ trợ của các nhà khoa học, thiết bị phân tích. Thực trạng này gây khó khăn không nhỏ ảnh hưởng đến thời hiệu giam giữ đối tượng của cơ quan điều tra (theo quy định thời hiệu giám định ma túy không quá 9 ngay) [11]. Do đó, việc nghiên cứu để xây dựng quy trình phân tích các cathinone tổng hợp trong các mẫu viên nén là rất thiết thực, đáp ứng nhu cầu về thực hành, giám định các chất ma tuý nhóm cathinone tổng hợp tại Việt Nam. Việc phân tích các chất ma tuý nhóm cathinone tổng hợp có thẻ thực hiện bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) hay sắc ký khí (GC), tuy nhiên HPLC là phương pháp tốn kém hơn do giá thành dung môi tương đối đất.
Phương pháp sắc ký khí khối phố (GC-MS) có hiệu quả tách rất cao, thời gian phân tích nhanh, độ nhạy và độ chọn lọc cao. Vì thế cần thiết nghiên cứu quy trình phân tích lựa chọn sử dụng thiết bị sắc ký khí khối phổ đề xác định các chất ma tuý nhóm cathinone tổng hợp để phát huy các ưu điểm của phương sắc ký khí. Từ hiện trạng sử dụng và mức độ nguy hại mà các chất ma tuý nhóm cathinone tổng hợp đem đến cho người sử dụng nó, đồng thời để phục vụ cho công tác giám định ma túy, đề tài này chúng tôi tập trung thực hiện nghiên cứu “Xây dựng phương pháp phân tích một số chất ma tHý nhóm Cathinone tổng hợp trong mẫu viên nén bằng thiết bị sắc ký khí khối phổ” phục vụ công tác kiểm tra phát hiện đối tượng sử dụng các chất ma tuý nhóm cathinone tông hợp. Mục tiêu cụ thể của đề tài là: 1.
Xây dựng và xác nhận giá trị sử dụng phương pháp phân tích một số chất ma tuý nhóm cathinone tông hợp trong mẫu viên nén bằng thiết bị sắc ký khí khối phô (GC-MS). Ứng dụng phương pháp phân tích một số chất ma tuý nhóm cathinone tổng hợp trong mẫu viên nén thực tế giám định bằng phương pháp vừa xây dựng. GIGI THIEU CHUNG VE CATHINONE TONG HOP 1. Dac điểm của cathinone tông hợp Cathinone là một trong những ancaloit có hoạt tính sinh học được tìm thấy trong cây bụi Khat.
Cathinone có cấu trúc tương tự amphetamine nên thường được gọi là amphetamine tự nhiên, sự khác biệt duy nhất giữa chúng là sự hiện diện của nhóm cacbonyl ở vị trí ơ, đặc trưng bởi tác dụng kích thích thần kinh trung ương. NH NHạ 2 Cathinone Amphetamine Hình 1. Công thức cấu tạo ctia Cathinone va Amphetamine 1. Mephedrone Số thứ tự 321-IIC thuéc ND 73/2018/ND-CP Quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất [9].
Tên khoa học: 2-(methylamino)-1-(4-methylphenyl)propan-1-one Tên khác: Mephedrone, 4-MMC, 4-methylephedrone Dạng tồn tại: Dạng bazơ là chất lỏng màu vàng. Dạng muối Mephedrone hydrochloride là bột màu trắng hoặc màu nhạt nhạt, đễ tan trong nước. Công thức cấu tạo: HạC ˆ ¬= Khôi lượng Nhiệt độ SAU an as x , .,| Công thức hóa oe „. Nhiệt độ sôi Dạng tôn tại phân tử nóng chảy học (°C) (g/mol) (°C) Bazo CiiHisNO 177,242 66,61 269,51 Mephedrone được bán phổ biến nhất đưới dạng tinh thể hoặc bột, nhưng cũng ở dạng viên nang hoặc viên.
Nó có thể có mùi đặc biệt mùi tanh đến mùi vani [1]. Mephedrone là một trong hàng trăm loại chất ma túy được sản xuất hợp pháp đã được báo cáo trong những năm gần đây, bao gồm các hóa chất nhân tạo như cần sa tổng hợp và các chất bán tổng hợp như Metylhexaneamin. Những loại thuốc này được phát triển chủ yếu để tránh bị kiểm soát bởi luật pháp chống lại các loại thuốc bất hợp pháp [3].