Đồ án: Nghiên cứu phương pháp phá nhò, xử lý dầu tại bến Chí Linh - Lê Văn Tuấn

Tổng hợp các phương pháp phá nhũ và công nghệ xử lý nhũ tương nghịch trong dầu thô. Báo cáo phân tích sơ đồ xử lý dầu thực tế tại bến Chí Linh.

Trường đại học

Đại học Mỏ Địa chất

Chuyên ngành

Dầu Khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

1997

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của nhò tương nghịch trong dầu thô

Nhò tương nghịch (emulsion W/O - Water in Oil) là một hỗn hợp phức tạp được hình thành khi nước và dầu kết hợp với nhau trong quá trình khai thác dầu khí. Đây là một trong những vấn đề lớn nhất mà các kỹ sư khai thác phải đối mặt trong công nghiệp dầu khí. Khi áp dụng các phương pháp khai thác thứ cấp và tam cấp, lượng nước chứa trong dầu thô tăng đáng kể, tạo thành những nhò tương rất ổn định. Xử lý nhò tương là quá trình thiết yếu để đảm bảo chất lượng dầu thô xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu chất lượng cao cho các nhà máy lọc dầu. Sự hiện diện của nước trong dầu thô không chỉ ảnh hưởng đến giá trị thương mại mà còn gây khó khăn trong vận chuyển và xử lý sau này.

1.1. Định nghĩa nhò tương W O trong dầu thô

Nhò tương W/O là một dạng phân tán trong đó những giọt nước nhỏ tách rời nằm lơ lửng trong pha dầu. Các giọt nước này được bao quanh bởi một lớp phim dầu chứa các chất hoạt động bề mặt tự nhiên như axit naphthenic, phenol và các hợp chất polycyclic. Những chất này đóng vai trò giữ nước trong trạng thái phân tán ổn định, tạo nên độ dính đặc biệt cao của nhò tương này.

1.2. Tác động của nhò tương đến chất lượng dầu

Sự hiện diện của nước nhò tương làm tăng độ dính, giảm khả năng chảy, và làm tăng khối lượng cụ thể của dầu. Điều này gây ra các vấn đề trong vận chuyển, lưu trữ và xử lý tiếp theo. Ngoài ra, nước còn gây ra hiện tượng ăn mòn các thiết bị, làm tăng chi phí bảo trì và giảm tuổi thọ của máy móc.

II. Các phương pháp phá nhò tương truyền thống và hiện đại

Để phá nhò tương một cách hiệu quả, các kỹ sư dầu khí đã phát triển nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này có thể được chia thành hai loại chính: phương pháp vật lý và phương pháp hoá học. Phá nhò bằng hoá chất là phương pháp phổ biến nhất, sử dụng các chất giảm nhớt đặc biệt được gọi là demulsifier. Những chất này hoạt động bằng cách phá vỡ lớp phim bảo vệ xung quanh các giọt nước, cho phép chúng kết tụ lại với nhau. Bên cạnh đó, các phương pháp như gia nhiệt, tách ly điện từ, và tổ hợp các phương pháp cũng đang được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp dầu khí.

2.1. Phương pháp hoá học phá nhò

Chất demulsifier được thêm vào dầu thô ở nồng độ từ 20-100 ppm tuỳ thuộc vào tính chất nhò tương. Các chất này giúp phá vỡ nhò tương bằng cách làm yếu lớp phim bề mặt, cho phép các giọt nước kết tụ thành những hạt lớn hơn. Quá trình này được gọi là coalescence, tạo điều kiện để nước tách ra khỏi pha dầu dễ dàng hơn.

2.2. Phương pháp kết hợp gia nhiệt và điện từ

Phương pháp xử lý nhò bằng gia nhiệt kết hợp với trường điện từ đã cho thấy hiệu quả cao. Gia nhiệt làm giảm độ dính của dầu và tăng tốc độ chuyển động của các giọt nước, trong khi trường điện từ giúp định hướng các giọt, tăng tốc độ kết tụ. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả với các nhò tương có độ ổn định cao.

III. Công nghệ xử lý nhò tương trên trạm rót dầu không bến

Trạm rót dầu không bến Chí Linh là một trong những cơ sở quan trọng để xử lý dầu thô trước khi xuất khẩu. Công nghệ xử lý tại đây được thiết kế để đạt được tiêu chuẩn dầu chất lượng thương phẩm. Quá trình bắt đầu từ công đoạn thu gom dòng sản phẩm và xử lý sơ bộ trên các giàn cố định, nhằm tách khí áp suất cao và loại bỏ phần nước cũng như tạp chất. Sau đó, dầu được vận chuyển qua đường ống tới trạm rót để xử lý triệt để, sử dụng các thiết bị tiên tiến kết hợp các phương pháp phá nhò hiện đại. Điều quan trọng là đạt được nồng độ nước cuối cùng dưới 0,5% để đảm bảo chất lượng xuất khẩu.

3.1. Quy trình xử lý trên trạm rót dầu

Quy trình xử lý nhò tương trên trạm rót dầu không bến gồm nhiều bước: (1) Tách khí ban đầu trong bình chứa áp suất; (2) Thêm chất demulsifier và gia nhiệt đến nhiệt độ tối ưu (50-70°C); (3) Cho dầu qua các bình lắng tĩnh để nước tách ra; (4) Kiểm tra độ ẩm và điều chỉnh nếu cần; (5) Vận chuyển dầu sạch tới bến tàu.

3.2. Các thiết bị chính sử dụng trong xử lý

Trạm rót sử dụng các thiết bị hiện đại như bình lắng tĩnh (settling tanks), bình chia tách điện từ (electrostatic separator), và bình chia tách dưới tác dụng nhiệt. Bình chia tách điện từ là thiết bị quan trọng nhất, hoạt động dựa trên nguyên lý tác dụng trường điện từ lên các giọt nước, làm tăng tốc độ kết tụ và tách nước từ dầu.

IV. Các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nhò

Hiệu quả phá nhò tương phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính chất nhò tương, thành phần hoá học của dầu thô, nồng độ và loại chất demulsifier sử dụng, cũng như các điều kiện vận hành như nhiệt độ, thời gian lắng tĩnh, và cường độ trường điện từ. Để nâng cao hiệu quả xử lý, cần phải tiến hành các nghiên cứu kỹ lưỡng về tính chất nhò tương cụ thể của từng mỏ dầu. Việc lựa chọn chất demulsifier phù hợp là yếu tố then chốt, cần được xác định thông qua các bài kiểm tra trong phòng thí nghiệm. Ngoài ra, tối ưu hoá các thông số vận hành như nhiệt độ, thời gian cư trú, và cường độ trường điện từ cũng rất quan trọng để đạt hiệu quả tách nước tối đa.

4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định nhò tương

Tính ổn định nhò tương phụ thuộc vào: (1) Hàm lượng và loại chất hoạt động bề mặt tự nhiên trong dầu; (2) Kích thước các giọt nước - các giọt nhỏ hơn ổn định hơn; (3) Tỷ lệ nước/dầu - nồng độ nước cao thường tạo nhò tương ổn định hơn; (4) Nhiệt độ - nhiệt độ cao thường giảm ổn định của nhò tương.

4.2. Biện pháp tối ưu hoá quá trình xử lý

Để tối ưu hoá xử lý nhò tương, cần: (1) Thực hiện các thử nghiệm Bottle Test để chọn loại demulsifier phù hợp; (2) Điều chỉnh nhiệt độ xử lý trong phạm vi 55-65°C; (3) Tăng thời gian lắng tĩnh từ 30-60 phút; (4) Nâng cao cường độ trường điện từ tới 400-500V/cm; (5) Kiểm soát chặt chẽ nồng độ demulsifier để tránh sử dụng thừa.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I Thành phần và tính chất chung của dầu mỏ I - Thành phần dầu mỏ. Dầu mỏ của Vietsovpetro nói riêng và dầu mỏ nói chung, ngoài một số tính chất đặc trưng của từng loại dầu hoặc của từng má nh hàm lượng của từng thành phần trong dầu, khối lượng riêng, độ nhít. thì hầu hết chúng đều có những đặc điểm chung. Về cấu tạo: Dầu mỏ là sản phẩm phức tạp nhất của thiên nhiên do hai nguyên tố cấu tạo nên: hydro và cacbon.

Về nguồn gốc: Nguồn gốc của dầu mỏ vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi mặc dù nguồn gốc hữu cơ vẫn đang thắng thế và đang được tìm kiếm thăm dò. Ở điều kiệnvỉa hoặc điều kiện môi trường mà nhiệt độ trên 30 0C (tuỳ theo thành phần Parafin) thì dầu mỏ tồn tại ở thể lỏng. Các đặc tính vật lý của nó thay đổi trong một giới hạn rất rộng, sự thay đổi này phụ thuộc vào điều kiện môi trường nh nhiệt độ, áp suất phụ thuộc vào thành phần hoá học của từng loại dầu. Qua nghiên cứu cho thấy Thành phần chủ yếu của dầu mỏ là hydro cacbon, chúng chiếm từ 60  90% khối lượng của dầu.

Trong đó gồm các nhóm: + Nhóm hydro cacbon parafinic (CnH2n + 2) Nhóm này có cấu trúc mạch thẳng và mạch nhánh chiếm từ 50  70%. Ở điều kiện bình thường Hydro cacbon có cấu tạo mạch từ C 1  C4 ở trạng thái khí, từ C5  C16 ở trạng thái láng, > C17 ở trạng thái rắn (dạng tinh thể). + Nhóm Hydro cacbon Naptennic (CnH2n). Nhóm này có cấu trúc mạch vòng (no và không no), chiếm tỷ lệ 10  20% thành phần dầu thô, phổ biến nhất là xydopentan và exclohexan cùng các dẫn xuất alkyl của chóng.

Ở điều kiện thường hydro cacbon napten (no) có cấu tạo từ C 1  C4 ở trạng thái khí, C5  C10 ở trạng thái láng, > C11 ở trạng thái rắn. + Nhóm Hydro cacbon Anomatic (CnH2n - 6) Nhóm này có mặt trong dầu thô dưới dạng các dẫn xuất của benzen, chiếm từ 1  2% thành phần dầu thô. + Các hợp chất có chứa oxy, nitơ, lưu huỳnh. 19 Khoa Dầu Khí ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Lê Văn Tuấn - K39 Ngoài các nhóm hydro cacbon kể trên trong dầu thô còn chứa các hợp chất không thuộc loại này mà phần lớn là Asphanten - smol có chứa trong nó hợp chất của O2, N2, S.

Trong đó: - Hợp chất với O2 chiếm hàm lượng khá lớn trong Asphanten có thể tới 80%, tồn tại chủ yếu dưới dạng axit Naften nh Asphan và fenol. - Hợp chất với N2 quan trọng nhất là pocfirin. Đây là sản phẩm chuyển hoá từ Hemoglobin sinh vật và từ clorofin thực vật. Điều này chứng tỏ nguồn gốc hữu cơ của dầu mỏ.

Pocfirin bị phân huỷ ở nhiệt độ  2000C, điều này cho biết nhiệt độ thành thạo của má > 2000C. - Hợp chất với S tồn tại dưới dạng S tù do hoặc H 2S mùi trứng thối. Hàm lượng S trong dầu thông thường từ 0,1  1% nếu S  0,5% được xem là hàm lượng đạt tiêu chuẩn. Hàm lượng S càng cao từ giá trị dầu thô cảng giảm.

Ngoài ra dầu thô chứa hàm lượng rất nhỏ các kim loại và chất khác nh: Fe, Ca, Mg, Nu, Cr, Ti, Co. chiếm khoảng 0,15  0,19 kg/tấn. II - Các tính chất vật lý của dầu mỏ. Khối lượng riêng ()  được xác định bởi khối lượng của một đơn vị thể tích  = (1) (1) m: Khối lượng g, kg, T V: Thể tích cm3, dm3, m3, lít.

Trong sản xuất người ta hay dùng một đơn vị so sánh về khối lượng riêng (còn gọi là tỷ trọng). Đây là đại lượng không thứ nguyên, nó là tỷ số giữa khối lượng riêng của dầu và khối lượng riêng của nước ở điều kiện nhiệt độ tiêu chuẩn. Với dầu nhiệt độ tiêu chuẩn là 200C, với nước là 40C. Khi đó ký hiệu tỷ trọng của dầu ở điều kiện tiêu chuẩn là 420 và qua thí nghiệm xác định được  của nước ở 40C = 1.

Đôi khi người ta cũng sử dụng một đơn vị so sánh nữa của dầu đó là tỷ trọng tương đối. Xác định tỷ trọng tương đối của dầu theo nhiệt độ tiêu chuẩn nh sau: 4T = 420 -  (T - 20); (2) (2) 4T - Tỷ trọng tương đối của dầu ở nhiệt độ T.  - Hệ số thay đổi tỷ trọng theo nhiệt độ, khi nhiệt độ thay đổi 10C thì  = 0,0174. Đối với sản phẩm giếng bao giê cũng chứa một hàm lượng nước nhất định.

Khi đó xác định khối lượng riêng phải tính đến sự ảnh hưởng của nước. Công thức tính nh sau: 20 Khoa Dầu Khí ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Lê Văn Tuấn - K39 h = 0 (1 - w) + w.w;(3) (3) h: Khối lượng riêng của hỗn hợp dầu nước; 0: Khối lượng riêng của dầu; w: Khối lượng riêng của nước; w: Thành phần % của nước trong hỗn hợp. Độ nhít tuyệt đối  . Độ nhít tuyệt đối là tính chất của chất lỏng, nó đặc trưng cho khả năng cản lại sự chuyển động tương đối giữa các hạt chất lỏng với nhau trong môi trường chất lỏng đó.

Độ nhít của dầu thô càng cao thì quá trình vận chuyển thu gom càng gặp nhiều khó khăn, nhất là việc tính toán áp suất tái khởi động bơm. Độ nhít dầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nhiệt độ áp suất, thành phần hoá học. Việc xác định độ nhít của một loại dầu phải căn cứ vào mô hình đường cong chảy của nó. Nghĩa là phải xác định được loại dầu đó là chất lỏng Newtơn hay Phi Newtơn.

Sau đó dùa vào phát triển đặc tính lưu biến của chất lỏng đã xác định để tính toán độ nhít.  4 3 2 p 1 0 st  du/dr Hình 2 - Mối quan hệ giữa ứng suất trượt và vận tốc trượt của chất lỏng - Khi dầu là chất lỏng Newtơn (Hình 2, đường 1) thì việc xác định độ nhít động lực học không gặp khó khăn. Thông qua phương trình Newtơn:  =  Rót ra:  = = tg  (4) (4) : Ứng suất trượt, Pa. : Độ nhít động lực học của dầu thô; PaS.

: Vận tốc trượt, S -1 21 Khoa Dầu Khí ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Lê Văn Tuấn - K39 - Khi chất lỏng dầu là Phi Newton thì việc xác định  rất phức tạp, tuỳ theo mô hình đường cong chảy đã xác định được trên đồ thị biểu diễn mối quan hệ  với du/dr mà tính toán cụ thể: + Chất lỏng giả dẻo: (mô hình OST WALD) (đường 2, hình 2) Mô hình này có phương pháp lưu biến như sau:  = * ()n; n < 1 (5) n < 1 (5) *: Độ nhít động lực học của chất lỏng giả dẻo: n: Chỉ tiêu mực, nó đặc trưng cho mức độ sai lệch giữa chất lỏng đang khảo sát với chất láng Newton. + Chất lỏng nhít dẻo (mô hình Bingham) đường 3, hình 2. Mô hình này có phương trình lưu biến như sau:  = 0 + ** (6) (6) **: Độ nhít động lực học của chất lỏng nhít dẻo. + Chất lỏng nhít dẻo không tuyến tính (Mô hình HERSCHELL BALKKEY) (đường 4, hình 2).

Mô hình này có phương trình lưu biến như sau:  = 0 + *** ()n; n < 1(7) (7) ***: Độ nhít động lực học của chất lỏng nhít dẻo không tuyến tính. 0: Ứng suất trượt động. st: Ứng suất trượt tĩnh, dùa vào st để tính áp suất khởi động để phá trạng thái tĩnh ban đầu. p: Ứng suất trượt tương ứng với mạng cấu trúc của dầu thô bị phá vỡ hoàn toàn.

Do độ nhít phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ, qua nghiên cứu và thực nghiệm người ta đã đưa ra được công thức tổng quá biểu diễn sự phụ thuộc này nh sau:  = K. eu (T = T0) (8) T, T0 là K, u là các hệ số thực nghiệm rót ra được khi đo độ nhít của dầu ở các nhiệt độ khác nhau. Theo kết quả thực nghiệm của Viện NIPI với đối tượng nghiên cứu là dầu thô mỏ Bạch Hổ thì các giá trị K, u trong các khoảng nhiệt độ là nh sau: T > 600C  = 0,006. e - 0,16 T 22 Khoa Dầu Khí ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Lê Văn Tuấn - K39 * Ngoài độ nhít động lực học, trong sản xuất người ta còn dùng độ nhít động học và độ nhít qui ước.

- Độ nhít động học (): là tỷ số giữa độ nhít động lực học và khối lượng riêng của dầu ở cùng nhiệt độ. - Độ nhít qui ước “E” (tương đối): Là tỷ số giữa thời gian chảy qua phễu đo độ nhít của 200 cm3 dầu ở nhiệt độ cần đo và thời gian chảy của 200 cm 3 nước cất ở 200C còng qua phếu đó. Nhiệt độ đông đặc: Nhiệt độ đông đặc của dầu thô là nhiệt độ tại đó dầu thô mất đi tính linh động. Nhiệt độ đông đặc của dầu thô phụ thuộc vào thành phần của nó, trong đó các thành phần nh parafin, nhựa Asphanten có ảnh hưởng quyết định tới nhiệt độ đông đặc của dầu.

Đây là tính chất có ý nghĩa quan trọng trong công nghệ vận chuyển và xử lý dầu thô. Độ dẫn nhiệt: Độ dẫn nhiệt là khả năng tuyền năng lượng nhiệt trên một đơn vị chiều dài khi nhiệt độ tăng lên 10C. Độ dẫn nhiệt của dầu được đặc trưng bởi hệ số dẫn nhiệt hf0 hf0 = 156,6 [1 - 0,47. 10 -3 (7 + 2730)] / 20; W/m 0C (10) Xét đến ảnh hưởng của parafin: hfp = (11) hfP: Hệ số dẫn nhiệt của dầu có kể đến ảnh hưởng của parafin.

hfPa: Hệ số dẫn nhiệt của parafin, (2,5 w/m 0C) Xét đến ảnh hưởng của nước + parafin. hF = (1 - w) hfP + w hFw; (12) (12) hF: Hệ số dẫn nhiệt của dầu có kể đến ảnh hưởng của nước và parafin. hFw: Hệ số dẫn nhiệt của nước (0,6 w/m 0C). Các công thức trên là các công thức thực nghiệm được kiểm chứng ở viện NIPI.

Sức căng bề mặt Sức căng bề mặt là một đặc tính của chất lỏng, nó chỉ xuất hiện trên bề mặt chung của hai chất lỏng khác nhau về tỷ trọng. Khi hai chất lỏng này được trộn vào 23 Khoa Dầu Khí ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Lê Văn Tuấn - K39 nhau mà không hoà tan vào nhau. Có thể giải thích sức căng bề mặt của chất lỏng bằng các lý thuyết cơ chất láng nh sau: - Lực phân tử trong nội bộ một chất lỏng luôn đạt trạng thái cân bằng. - Lực phân tử của các chất lỏng khác nhau là khác nhau.

Do vậy tại bề mặt tiếp xúc giữa hai chất lỏng khác nhau sẽ xuất hiện sự chênh lệch về lực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ