CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu về các biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hoà nhập Trong bài phát biểu diễn ra tại hội nghị diễn ra ở London, ông Alan Johnson, bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh, đã chỉ ra rằng vai trò của các bậc phụ huynh trong việc giáo dục trẻ và rất quan trọng, điều này mang lại sự “khác biệt lớn” so với những kết quả trên trường mà trẻ đạt được. [1] Trong công tác phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong giáo dục trẻ đang được Đảng và Nhà nước hiện nay rất quan tâm, đề ra là những nguyên tắc cơ bản để đảm bảo được kết quả trong công tác giáo dục.
Các công trình đã nghiên cứu liên quan đến những quan điểm lí luận và thực tiễn về nhiệm vụ, vai trò của gia đình và sự phối hợp của nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc giáo dục. Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên), năm 1998; Kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội trong Giáo dục học tập II của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, năm 1988; Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện mới” của tập thể tác giả ở Trung tâm Giáo dục học, thuộc viện Khoa học Giáo dục, 1993. [1] Nghiên cứu về các biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục tập trung vào các phương pháp và kĩ thuật để tối đa tiềm năng giáo dục của một trường học hoặc của một hệ thống giáo dục. Các nghiên cứu về các biện pháp phối hợp lực lượng giáo dục có thể đi sâu vào nhiều khía cạnh mới ở trong việc giáo dục con trẻ.
Mục tiêu của những nghiên cứu đều là nhằm cải thiện tính hiệu quả của quá trình giảng dạy và học tập bằng cách tận dụng tối đa các tài nguyên cũng như sự kết nối giữa các lực lượng giáo dục với nhau để cùng tạo dựng nên những giá trị giáo dục. Các khía cạnh sâu hơn của việc phối hợp các lực lượng giáo dục đó là việc song hành trong giáo dục của cộng đồng trong việc giáo dục các em. Các vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực này bao gồm: Mô hình giáo dục hoà nhập: Nghiên cứu các mô hình giáo dục hoà nhập và cách thức triển khai môi hình này để nhằm tạo ra một môi trường học tập tích cực, thuận lợi cho các em học sinh khuyết tật và các trẻ bình thường. Đào tạo và phát triển năng lực 5 giáo viên: Nghiên cứu về các chương trình đào tạo giáo viên về giáo dục hoà nhập và cách phát triển năng lực giáo viên trong việc giảng dạy các trẻ khuyết tật.
Hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng: Nghiên cứu về cách tạo sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng đối với các em học sinh khuyết tật, giúp họ có một môi trường học tập thuận lợi. Phát triển chương trình giảng dạy: Nghiên cứu về cách phát triển chương trình giảng dạy và tài liệu học tập phù hợp với các trẻ khuyết tật. Đánh giá và đo lường kết quả giáo dục: Nghiên cứu về cách đánh giá và đo lường kết quả giáo dục trong giáo dục hoà nhập để đảm bảo rằng các em học sinh khuyết tật đạt được những kết quả giáo dục tốt nhất. Tất cả các vấn đề này đều nhằm mục đích giúp các trẻ khuyết tật được tham gia vào môi trường học tập chung và đạt được những kết quả giáo dục tốt nhất.
Đã có rất nhiều công trình được đưa ra trong công tác phối hợp giữa các lực lượng trong giáo dục nhưng đối với khía cạnh phối hợp giữa các lực lượng trong môi trường giáo dục hoà nhập thì lại chưa được đề cập đến quá nhiều. Thiếu các công trình chuyên sâu đi vào đề tài này, tất cả chỉ mới dừng lại ở việc đưa ra những vấn đề. Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu về các biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hoà nhập với trẻ Rối loạn phổ tự kỉ Trên Thế giới đã có rất nhiều tài liệu về giáo dục trẻ Rối loạn phổ tự kỉ và Giáo dục hòa nhập cho trẻ mắc hội chứng này. Đầu tiên chính là “Tuyên ngôn về quyền của con người của Liên hợp quốc” đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản về quyền của trẻ khuyết tật, đặc biệt là quyền được hưởng giáo dục.
Mỗi trẻ em đều là những mầm non tương lai của đất nước, nên chính điều đó việc giáo dục – chăm sóc trẻ là vô cùng quan trọng dù là những trẻ bình thường hay trẻ mắc khuyết tật. Tiếp theo là về “Công ước Quốc tế về quyền trẻ em ” cũng đã đưa ra những điều khoản bảo vệ quyền của trẻ. Công ước của Liên Hiệp Quốc về Quyền của Người Khuyết Tật ( Convention on the Rights of Persons with Disabilities - CRPD) được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 13/12/2006 thừa nhận rằng sự khuyết tật là một khái niệm luôn phát triển và sự khuyết tật xuất phát từ sự tương tác giữa người có khuyết tật với những rào cản về môi trường và thái độ, những rào cản này là phương hại đến sự tham gia đầy đủ và hữu hiệu của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác. [2] 6 Các biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hoà nhập với trẻ Rối loạn phổ tự kỉ đang là một chủ đề nghiên cứu được quan tâm trong ngành giáo dục đặc biệt.
Một số vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực này bao gồm: Tầm quan trọng của sự phối hợp giữa giáo viên, phụ huynh và các chuyên gia về Rối loạn phổ tự kỉ: Nghiên cứu này tập trung vào tầm quan trọng của việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục, bao gồm giáo viên, phụ huynh và các chuyên gia về RPTK, để cung cấp cho trẻ Rối loạn phổ tự kỉ một môi trường hỗ trợ và phát triển tối đa. Tóm lại có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước về trẻ Rối loạn phổ tự kỉ nhưng các nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hoà nhập trẻ Rối loạn phổ tự kỉ thì chưa nhiều. Sự phối hợp của gia đình và nhà trường là hai lực lượng quan trọng trong việc giáo dục trẻ ở giai đoạn 5 - 6 tuổi. Là giai đoạn vàng trong thời kì phát triển của trẻ.
Rất cần có một công trình nghiên cứu sâu về các biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hoà nhập cho trẻ Rối loạn phổ tự kỉ nói chung và sự phối hợp của nhà trường với gia đình trẻ nói 1. Trẻ Rối loạn phổ tự kỉ 1. Khái niệm trẻ Rối loạn phổ tự kỉ Theo khoá luận thì chúng tôi hiểu khái niệm Rối loạn phổ Tự Kỷ theo Liên hợp quốc trong Nghị quyết A/RES/62/139 ngày 21/01/2008: “Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, được thể hiện ra ngoài trong ba năm đầu đời, là hệ quả của rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ, ảnh hưởng đến trẻ em ở nhiều quốc gia, không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội, và được đặc trưng bởi khiếm khuyết trong tương tác xã hội, các vấn đề giao tiếp bằng lời nói và không lời nói, và có các hành vi, sở thích hạn hẹp và định hình lặp lại”. Tiêu chí đánh giá theo DSM - 5 “A.
Khiếm khuyết kéo dài trong giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong nhiều tình huống, với những biểu hiện sau đây, xảy ra hiện tại hoặc trước đây (Ví dụ có tính minh hoạ, không bao quát mọi khía cạnh)” [17] “1. Những thiếu hụt trong trao đổi cảm xúc - xã hội, phạm vi từ cách tiếp cận từ xã hội bất thường và kém hội thoại qua lại; đến giảm chia sẻ sở thích, tình cảm hoặc cảm xúc; kèm khởi xướng hoặc đáp ứng với tương tác xã hội. Thiếu hụt các hành vi giao tiếp không lời dùng trong tương tác xã hội, phạm vi từ sự nghèo nàn trong kết hợp giao tiếp có lời và không lời; đến những bất thường trong giao tiếp mắt và ngôn ngữ cơ thể, thiếu hụt trong việc hiểu và sử dụng các cử chỉ, điệu bộ; đến thiếu hoàn toàn biểu hiện nét mặt và giao tiếp không lời. Thiếu hụt việc phát triển, duy trì và hiểu các mối quan hệ, ví dụ, từ khó khăn trong điều chỉnh hành vi để phù hợp với tình huống xã hội đa dạng; tới khó khăn trong tham gia trò chơi tưởng tượng hoặc làm bạn; không biết quan tâm tới bạn bè.
Những mẫu hành vi, sở thích, hoặc hoạt động thu hẹp, lặp đi lặp lại, được biểu hiện ít nhất hai trong số những mục sau, xây ra hiện tại hoặc trước đây (những ví dụ có tính minh họa, không bao quát mọi khía cạnh). Những chuyển động vận động, sử dụng đồ vât hoặc lời nói rập khuôn, hoặc lặp đi lặp lại (vd: những cử động đơn giản rập khuôn; xếp đồ choi thành hàng, vung vầy đồ vật, nhại lời, những cụm từ båt thường, theo đặc tính riêng). Khăng khăng duy trì sự giống nhau (có tính chất cố định), tuân thủ cứmg nhắc những thói quen, hoặc những mẫu hành vi có lời/ không lời có tính nghi thức (vd: vô củng khó chịu với những thay đổi nhỏ, khó khăn với sự chuyến tiếp, cách suy nghĩ cứng nhắc, chào hỏi kiều rập khuôn, cần phải đi cùng một lịch trình, ăn cùng một món ăn mỗi ngày). Những sở thích có tính thu hẹp và gắn bó cao, bất thường về cường độ hoặc sự tập trung (vd: gắn kết hoặc bận tâm cao độ với những đồ vật khác thường, những sở thích quá hạn chế hoặc quá dai dẳng).
Phản ứng quá mạnh hay quá yếu trong tiếp nhận cảm giác hoặc quan tâm bất thường đến những khía cạnh cảm giác của môi trường (vd: giảm phản ứng rõ rệt với đau/nhiệt độ, phản ứng khó chịu với một số âm thanh hoặc kết cấu bề mặt, ngửi hoặc sờ chạm quá mức vào đồ vật, nhìn say mê vào các loại ánh sáng hoặc sự di chuyển).