Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Ngọc Nhi (chuyên ngành Giáo dục đặc biệt, Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, năm 2023) tập trung giải quyết bài toán phối hợp liên lực lượng trong can thiệp và hỗ trợ trẻ rối loạn phổ tự kỉ (RLPTK) lứa tuổi mầm non.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả dẫn số liệu từ Khoa Phục hồi chức năng thuộc Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy tỷ lệ trẻ tự kỉ đến khám có xu hướng gia tăng rõ rệt: năm 2000 số trẻ đến khám tăng 122% so với năm trước đó và đến năm 2007 tỷ lệ này tăng lên tới 268%. Trong môi trường giáo dục hòa nhập, trẻ RLPTK lứa tuổi 5 – 6 tuổi đối mặt với ba nhóm khó khăn cốt lõi: khó khăn trong thu hút sự chú ý và giao tiếp xã hội, khó khăn trong quản lý và kiểm soát hành vi (xuất hiện các hành vi rập khuôn, lặp đi lặp lại hoặc kém thích ứng), và khó khăn về khả năng tập trung, định hướng hoạt động. Thực tiễn triển khai giáo dục hòa nhập tại các trường mầm non cũng bộc lộ những bất cập như: sự thiếu tương tác và không đồng nhất về kinh nghiệm chuyên môn giữa các giáo viên, sự chậm trễ trong chia sẻ dữ liệu và triển khai quy trình hỗ trợ, cùng với sự thiếu ăn khớp giữa gia đình và nhà trường. Nhiều phụ huynh còn mang tâm lý né tránh, phủ nhận các cảnh báo hành vi bất thường của con hoặc từ chối phối hợp can thiệp chuyên khoa.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng phối hợp các lực lượng giáo dục cho trẻ RLPTK từ 5 – 6 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội, đề xuất các biện pháp cải thiện và nâng cao hiệu quả của sự phối hợp giữa các bên liên quan, trọng tâm là mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình.
Khóa luận xác lập ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống một số vấn đề lý luận về phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hòa nhập cho trẻ RLPTK.
- Khảo sát thực trạng phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hòa nhập cho trẻ RLPTK 5 – 6 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp tổ chức phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong giáo dục hòa nhập cho trẻ RLPTK.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các biện pháp phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong giáo dục hòa nhập cho trẻ RLPTK từ 5 – 6 tuổi. Khách thể nghiên cứu là quá trình phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong bối cảnh giáo dục hòa nhập đối tượng trẻ này.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Khảo sát thực nghiệm tại hai trường mầm non hòa nhập trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội: Trường Mầm non Hoa Hồng và Trường Mầm non Hoa Sen.
- Thời gian: Năm học 2022 – 2023.
- Khách thể khảo sát: 42 gia đình có con mắc RLPTK trong độ tuổi 5 – 6 tuổi, 30 giáo viên mầm non trực tiếp dạy các lớp mẫu giáo lớn có trẻ hòa nhập, và 6 cán bộ quản lý của hai nhà trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm chuẩn tắc và các văn kiện quốc tế về quyền giáo dục của trẻ khuyết tật, bao gồm:
- Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên hợp quốc và Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em.
- Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của Người khuyết tật (CRPD, thông qua ngày 13/12/2006), tiếp cận khuyết tật từ góc độ tương tác giữa khiếm khuyết cơ thể với rào cản môi trường và thái độ xã hội.
- Định nghĩa về RLPTK theo Nghị quyết A/RES/62/139 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (ngày 21/01/2008), xác định tự kỉ là khuyết tật phát triển suốt đời, biểu hiện trong ba năm đầu đời do rối loạn chức năng não bộ, đặc trưng bởi khiếm khuyết tương tác xã hội, giao tiếp ngôn ngữ/phi ngôn ngữ và hành vi định hình lặp lại.
- Bộ tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng DSM-5 của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (APA), phân tích hai trục khiếm khuyết cốt lõi (khiếm khuyết giao tiếp/tương tác xã hội kéo dài và các mẫu hành vi, sở thích rập khuôn thu hẹp) cùng các tiêu chí chẩn đoán phân biệt với Hội chứng Rett, Không nói lựa chọn, Rối loạn ngôn ngữ/giao tiếp xã hội, Chậm phát triển trí tuệ không kèm RLPTK, Rối loạn vận động định hình, Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) và Tâm thần phân liệt.
- Kế thừa các công trình nghiên cứu về liên kết lực lượng giáo dục trong nước của các tác giả: Phạm Khắc Chương (1998), Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (1988), Trung tâm Giáo dục học thuộc Viện Khoa học Giáo dục (1993).
Khóa luận kết hợp đồng bộ hai nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu khoa học, văn bản quy phạm pháp luật và các mô hình giáo dục hòa nhập làm khung phân tích.
- Nhóm phương pháp thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát riêng biệt cho giáo viên và phụ huynh nhằm đo lường nhận thức, tần suất tham gia, mức độ hài lòng và những rào cản trong quá trình tương tác.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiếp cận trực tiếp giáo viên giảng dạy hòa nhập và cha mẹ trẻ nhằm thu thập dữ liệu định tính về sự tương tác thường nhật; phỏng vấn 6 cán bộ quản lý về cơ chế điều hành và xử lý tình huống phát sinh.
- Phương pháp quan sát / dự giờ họp phụ huynh: Sử dụng phiếu quan sát nhằm ghi nhận tiến trình, không khí và mức độ phối hợp thực tế giữa giáo viên và phụ huynh trẻ RLPTK trong các buổi sinh hoạt chung.
- Phương pháp phân tích và xử lý thông tin: Sử dụng các công cụ thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) để xử lý dữ liệu định lượng, làm cơ sở đối chiếu với các nhận định định tính.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hòa nhập trẻ Rối loạn phổ tự kỉ 5 – 6 tuổi
Chương này hoàn thiện hệ thống hóa các vấn đề lý luận cốt lõi về bản chất tâm sinh lý của trẻ RLPTK và cơ chế vận hành của mô hình giáo dục hòa nhập:
- Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 5 – 6: Trẻ RLPTK ở lứa tuổi này bộc lộ sự thiếu hụt rõ nét về điều hòa cảm giác (quá nhạy cảm hoặc giảm đáp ứng với các kích thích thị giác, thính giác, xúc giác), ngôn ngữ diễn đạt suy giảm (nói ngọng, phát âm vô nghĩa, nhại lời hoặc thoái lui ngôn ngữ), khả năng duy trì tương tác mắt yếu, khó kiềm chế cảm xúc dẫn đến các phản ứng chống đối, đập phá hoặc co cụm.
- Lý luận về giáo dục hòa nhập: Tác giả xác định giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục bình đẳng cho mọi trẻ em trong lớp học phổ thông tại nơi cư trú, trong đó cốt lõi là điều chỉnh chương trình giảng dạy, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng cá nhân hóa và lấy trẻ làm trung tâm.
- Cơ chế phối hợp liên lực lượng: Ba lực lượng tham gia được xác định gồm Gia đình, Nhà trường và Xã hội. Khóa luận phân tích chi tiết:
- 5 vai trò của gia đình: hiểu biết bản chất tật, hỗ trợ chẩn đoán phát hiện sớm, xây dựng môi trường gia đình ủng hộ, phối hợp chặt chẽ với trường học, và trực tiếp tham gia tiến trình rèn luyện kỹ năng.
- 4 vai trò của giáo viên và nhà trường: thiết lập môi trường hòa nhập an toàn, thiết kế kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP) phù hợp, kết nối đa kênh với gia đình, và tổ chức các chiến lược bồi dưỡng kỹ năng xã hội, kỹ năng tự phục vụ qua hoạt động trải nghiệm thực tế.
- 3 nguyên tắc phối hợp: đảm bảo tính thống nhất về mục tiêu - nội dung - phương pháp; đảm bảo tính đồng bộ giữa nhà trường - gia đình - xã hội; đảm bảo tính hiệu quả trong chia sẻ thông tin và thực thi kế hoạch.
- 4 nội dung hợp tác: thống nhất mục tiêu phát triển, thống nhất nội dung can thiệp, điều phối chuẩn hóa các yêu cầu kỹ năng giữa lớp và nhà, và đồng bộ hóa các phương pháp chăm sóc giáo dục.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hoà nhập trẻ Rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi trên địa bàn Hà Nội
Chương 2 trình bày chi tiết kết quả khảo sát thực trạng tại Trường Mầm non Hoa Hồng (đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2, diện tích 6.370 m², quy mô 25 lớp, 104 cán bộ - giáo viên - nhân viên) và Trường Mầm non Hoa Sen (thành lập theo Quyết định 3538/QĐ-UBND ngày 28/08/2017, diện tích 5.089 m², 18 phòng học).
Dữ liệu khảo sát cơ cấu nhân khẩu học và trình độ chuyên môn:
| Tiêu chí phân loại |
Nhóm đối tượng |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Cơ cấu tuổi phụ huynh (n=42) |
Dưới 30 tuổi |
12 |
28,57% |
|
Từ 30 đến 39 tuổi |
18 |
42,86% |
|
Từ 40 đến 50 tuổi |
9 |
21,43% |
|
Trên 50 tuổi |
3 |
7,14% |
| Cơ cấu tuổi giáo viên (n=30) |
Dưới 30 tuổi |
7 |
23,30% |
|
Từ 30 đến 39 tuổi |
15 |
50,00% |
|
Từ 40 đến 50 tuổi |
6 |
20,00% |
|
Trên 50 tuổi |
2 |
6,67% |
| Trình độ chuyên môn giáo viên |
Cử nhân GD Mầm non |
11 |
36,67% |
| (22 GV mầm non, 8 GV GDĐB) |
Cử nhân GD Đặc biệt |
5 |
16,67% |
|
Cao đẳng Sư phạm Mầm non |
6 |
20,00% |
|
Sau đại học GD Mầm non |
5 |
16,67% |
|
Sau đại học GD Đặc biệt |
3 |
10,00% |
Về thực trạng nhận thức và hành vi từ phía gia đình:
- Nhận thức: 61,7% gia đình hoàn toàn đồng ý về sự cần thiết phải phối hợp; tuy nhiên vẫn còn 21,3% cho rằng chưa cần thiết và 8,5% đánh giá không cần thiết.
- Chủ thể chăm sóc chính: Mẹ chiếm tỷ lệ cao nhất với 46,8%; bố chiếm 23,4%; ông bà chiếm 23,4%.
- Hiểu biết về tình trạng của trẻ: Chỉ có 17,0% phụ huynh có chuyên môn sâu; 51,1% nắm kiến thức cơ bản; còn 29,8% phụ huynh thừa nhận chưa hiểu rõ hoặc thiếu kiến thức về dạng tật của con. Nguồn tiếp cận thông tin chủ yếu qua mạng Internet (50,0%), tư vấn y bác sĩ/chuyên gia (30,0%), người quen (12,0%) và chỉ có 8,0% tiếp cận qua giáo viên chuyên ngành.
- Mức độ tham gia hoạt động: Phụ huynh tham gia dã ngoại ngoại khóa (34,0%), hoạt động trải nghiệm (27,7%), hỗ trợ trang trí lớp dịp lễ Tết (23,4%). Đối với các buổi tham vấn riêng về tình trạng trẻ, có tới 21 ý kiến đánh giá ít tham gia và 8 ý kiến không tham gia.
- Mức độ hài lòng: 42,6% phụ huynh đánh giá mức độ tiến bộ của trẻ ở mức "chấp nhận được", 36,2% hài lòng và 19,1% rất hài lòng. Về thái độ tác phong của giáo viên, 36,3% rất hài lòng, 29,8% hài lòng và 34,0% đánh giá chấp nhận được.
Về thực trạng từ phía giáo viên và nhà trường:
- Thâm niên công tác: Giáo viên có từ 4 – 5 năm kinh nghiệm chiếm 43,3%; 2 – 3 năm chiếm 26,7%; 6 – 8 năm chiếm 20,0%.
- Nhận định về vai trò: 56,7% giáo viên cho rằng bản thân giáo viên giữ vai trò quyết định, trong khi 43,3% đánh giá gia đình giữ vai trò chính.
- Mật độ trẻ tự kỉ: 30,0% lớp học có 3 trẻ RLPTK; 26,7% lớp có 2 trẻ; 23,3% lớp có trên 4 trẻ (cá biệt có lớp tiếp nhận tới 10 trẻ ở các mức độ khác nhau); chỉ 13,3% lớp học duy trì tỷ lệ lý tưởng 1 trẻ RLPTK.
- Rào cản giáo viên gặp phải:
| Rào cản / Khó khăn của giáo viên |
Tỷ lệ lựa chọn (%) |
| Khó khăn chung trong giáo dục hòa nhập |
|
| Năng lực chuyên môn giáo dục đặc biệt chưa đủ |
40,00% |
| Thiếu sự hợp tác tích cực từ phía gia đình |
36,70% |
| Khó khăn xuất phát từ cơ chế chỉ đạo của cán bộ quản lý |
23,30% |
| Khó khăn trong phối hợp với phụ huynh |
|
| Kết quả học tập của trẻ không có sự tiến bộ rõ rệt |
36,70% |
| Gia đình không phối hợp rèn luyện tiếp nối tại nhà |
36,70% |
| Phụ huynh bận rộn, không dành thời gian đồng hành cùng trẻ |
20,00% |
- Đánh giá hiệu quả phối hợp với nhà trường: 12 giáo viên đánh giá các đợt tập huấn chuyên môn của trường đạt hiệu quả chưa cao, 8 đánh giá chưa hiệu quả, 2 đánh giá không hiệu quả; 12 ý kiến cho rằng việc trao đổi thông tin với ban giám hiệu đạt hiệu quả chưa cao và 11 ý kiến nhận định chưa hiệu quả.
- Khảo sát 6 cán bộ quản lý: Các nhà quản lý thể hiện tinh thần trách nhiệm và sẵn sàng xử lý tình huống, đưa ra định hướng điều chỉnh giáo án hoặc nhắc nhở giáo viên quan sát nguyên nhân hành vi; tuy nhiên, các giải pháp đưa ra còn mang tính hành chính, xử lý tình thế trước mắt, thiếu các quy chuẩn chuyên môn cụ thể và chưa có các buổi tập huấn chuyên sâu giải tỏa vướng mắc hàng ngày cho giáo viên.
Chương 3: Đề xuất các biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hòa nhập trẻ Rối loạn phổ tự kỉ 5 – 6 tuổi trên địa bàn Hà Nội
Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, tác giả xác định nguyên tắc, mục đích, điều kiện thực thi và đề xuất ba nhóm biện pháp can thiệp trọng tâm:
- Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức về vấn đề phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hoà nhập trẻ Rối loạn phổ tự kỉ. Định hướng triển khai các chuyên đề tuyên truyền, các buổi tọa đàm giúp xóa bỏ định kiến, nâng cao nhận thức đúng đắn cho toàn thể giáo viên, phụ huynh và cộng đồng trường học về bản chất của RLPTK.
- Biện pháp 2: Tổ chức các hoạt động nâng cao năng lực của giáo viên trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hoà nhập trẻ Rối loạn phổ tự kỉ. Chú trọng tập huấn chuyên sâu kỹ năng lập kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP), kỹ năng kiểm soát hành vi bất thường, cách tiếp cận các phương pháp can thiệp hành vi và phương pháp thiết lập kênh trao đổi thường nhật với gia đình.
- Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho phụ huynh trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hoà nhập trẻ Rối loạn phổ tự kỉ. Tổ chức các lớp hướng dẫn phụ huynh kỹ thuật điều hòa cảm giác, rèn luyện kỹ năng tự phục vụ tại nhà, cũng như cách theo dõi sổ liên lạc và duy trì bài tập can thiệp đồng nhất với chương trình trên lớp.
- Mối liên hệ giữa các biện pháp: Ba biện pháp có quan hệ biện chứng, hữu cơ. Biện pháp 1 đóng vai trò định hướng tư tưởng và nhận thức; Biện pháp 2 chuẩn hóa năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ thực thi nòng cốt (giáo viên); Biện pháp 3 củng cố môi trường can thiệp nền tảng (gia đình), đảm bảo tính tiếp nối và liên tục của quá trình giáo dục.
- Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi: Tác giả tổ chức lấy ý kiến chuyên gia và lực lượng thực tế (trình bày tại Bảng 2.4 / mục 3.4) nhằm đánh giá định lượng tính cấp thiết và mức độ khả thi của ba biện pháp đề xuất trước khi đưa vào ứng dụng thực tiễn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả khoa học và đóng góp cụ thể:
- Cung cấp bức tranh thực trạng định lượng chi tiết: Khóa luận phản ánh chính xác các con số thực tế về giáo dục hòa nhập trẻ tự kỉ tại các trường công lập mầm non trên địa bàn Hà Nội. Minh chứng rõ nét rằng 40,0% giáo viên cảm thấy thiếu hụt năng lực chuyên môn giáo dục đặc biệt; 36,7% giáo viên gặp trở ngại do gia đình thiếu hợp tác hoặc trẻ không tiến bộ; 29,8% phụ huynh thiếu kiến thức căn bản về dạng tật của con và 21,3% phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc kết hợp với nhà trường.
- Hệ thống hóa bộ công cụ can thiệp mang tính khả thi: Thay vì đưa ra các nguyên lý giáo dục chung chung, tác giả đề xuất hệ thống ba biện pháp tác động đồng thời vào ba mắt xích: Nhận thức chung - Năng lực nghiệp vụ của giáo viên - Kỹ năng can thiệp thực hành của phụ huynh.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả chỉ ra rằng trong khi phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ dừng lại ở lý luận chung về phối hợp giáo dục giữa nhà trường - gia đình - xã hội hoặc tập trung nghiên cứu trẻ tự kỉ dưới giác độ y học lâm sàng, thì khóa luận này đã đi sâu trực tiếp vào phân tích cơ chế hợp tác liên lực lượng đối với nhóm trẻ RLPTK giai đoạn 5 – 6 tuổi — giai đoạn bản lề chuẩn bị chuyển tiếp vào lớp 1 phổ thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn được tác giả ghi nhận:
- Giới hạn về mẫu và địa bàn khảo sát: Đề tài mới được triển khai trên phạm vi 2 trường mầm non (Hoa Sen và Hoa Hồng) thuộc địa bàn một quận (quận Cầu Giấy, Hà Nội), quy mô mẫu gồm 42 phụ huynh, 30 giáo viên và 6 cán bộ quản lý. Quy mô này chưa đủ đại diện cho toàn bộ hệ thống trường mầm non hòa nhập tại Hà Nội cũng như các tỉnh thành khác.
- Giới hạn về phương pháp đánh giá thực nghiệm: Khóa luận chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát thực trạng và tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi thông qua lấy ý kiến chuyên gia (khảo nghiệm lý thuyết), chưa triển khai thực nghiệm sư phạm trên một nhóm trẻ đối chứng trong thời gian dài để đo lường định lượng sự tiến bộ hành vi của trẻ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả định hướng mở rộng nghiên cứu sang việc thiết kế quy trình thực nghiệm sư phạm ứng dụng ba biện pháp tại nhiều trường mầm non với quy mô mẫu lớn hơn; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu các cơ chế chuyển tiếp giáo dục cho trẻ RLPTK từ bậc mầm non 5 – 6 tuổi lên lớp 1 tiểu học.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Giáo dục đặc biệt, Giáo dục Mầm non, Công tác xã hội: Có thể tham khảo phương pháp thiết kế phiếu hỏi khảo sát, bảng kiểm quan sát phụ huynh, tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-5 ứng dụng trong trường mầm non và quy trình nghiên cứu thực tiễn một đề tài giáo dục hòa nhập.
- Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy lớp hòa nhập: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về tâm lý phụ huynh, các kỹ năng nhận diện rào cản hành vi của trẻ RLPTK 5 – 6 tuổi và cách thức xây dựng mối quan hệ cộng tác thường nhật với gia đình.
- Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non: Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế các đợt tập huấn chuyên môn sát với nhu cầu giáo viên, điều chỉnh sĩ số trẻ hòa nhập trên một lớp học và xây dựng cơ chế phối hợp ba bên minh bạch.
- Phụ huynh có con mắc rối loạn phổ tự kỉ: Giúp phụ huynh nắm bắt các kênh thông tin chính thống, hiểu được vai trò của việc can thiệp tiếp nối tại nhà và các phương thức phối hợp tích cực với giáo viên chủ nhiệm.
Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 2 với hệ thống số liệu thống kê thực trạng cụ thể về rào cản tương tác giữa giáo viên - phụ huynh và các tình huống chỉ đạo thực tế của cán bộ quản lý.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận sử dụng khung tiêu chuẩn nào để định nghĩa và nhận diện trẻ rối loạn phổ tự kỉ?
Khóa luận sử dụng định nghĩa của Liên hợp quốc theo Nghị quyết A/RES/62/139 (ngày 21/01/2008) và bộ tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng DSM-5 của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, tập trung vào hai trục khiếm khuyết kéo dài: khiếm khuyết trong giao tiếp/tương tác xã hội và các mẫu hành vi, sở thích rập khuôn, lặp đi lặp lại.
Quy mô và địa bàn khảo sát thực tiễn của đề tài được thực hiện ở đâu?
Đề tài khảo sát tại Trường Mầm non Hoa Hồng (địa chỉ số 1 Trần Tử Bình, Nghĩa Tân) và Trường Mầm non Hoa Sen, cùng thuộc quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Mẫu khảo sát gồm 42 phụ huynh có con 5 – 6 tuổi mắc RLPTK, 30 giáo viên mầm non trực tiếp dạy hòa nhập và 6 cán bộ quản lý của hai trường trong năm học 2022 – 2023.
Theo số liệu khảo sát, rào cản lớn nhất mà giáo viên gặp phải khi dạy trẻ tự kỉ hòa nhập là gì?
Số liệu từ Biểu đồ 2.15 cho thấy 40,0% giáo viên đánh giá khó khăn lớn nhất là năng lực chuyên môn của bản thân chưa đủ để hỗ trợ trẻ; 36,7% cho rằng do thiếu sự hợp tác từ phía gia đình; và 23,3% xuất phát từ công tác chỉ đạo của cán bộ quản lý. Về tương tác với phụ huynh (Biểu đồ 2.16), có 36,7% giáo viên chỉ ra việc gia đình không tiếp nối giáo dục tại nhà và 36,7% lo ngại về việc kết quả học tập của trẻ không tiến bộ.
Phụ huynh trẻ tự kỉ tiếp cận kiến thức can thiệp chủ yếu qua nguồn nào?
Theo kết quả khảo sát tại Biểu đồ 2.4, có 50,0% phụ huynh tìm kiếm thông tin qua mạng Internet; 30,0% qua tư vấn của bác sĩ/chuyên gia; 12,0% tham khảo qua bạn bè; và chỉ có 8,0% tiếp cận kiến thức từ giáo viên có chuyên môn giáo dục đặc biệt.
Tác giả đề xuất các biện pháp cụ thể nào trong Chương 3?
Tác giả đề xuất ba biện pháp: (1) Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức về phối hợp liên lực lượng trong giáo dục hòa nhập trẻ RLPTK; (2) Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng phối hợp cho giáo viên; (3) Tổ chức các chương trình hướng dẫn, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng thực hành can thiệp cho phụ huynh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Ngọc Nhi đã phản ánh toàn diện thực trạng phối hợp giữa gia đình, giáo viên và nhà trường trong công tác giáo dục hòa nhập trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 – 6 tuổi tại hai trường mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội. Dựa trên việc chỉ rõ những thiếu hụt về kiến thức của phụ huynh, áp lực chuyên môn của giáo viên và mật độ trẻ hòa nhập cao trong lớp học, công trình đã đề xuất ba nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ từ nhận thức đến năng lực nghiệp vụ và kỹ năng thực hành. Đây là công trình nghiên cứu ứng dụng có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác đào tạo sư phạm giáo dục đặc biệt và quản lý giáo dục hòa nhập mầm non hiện nay.