đặt vấn đề của Kant về con đường chuyển tir cảm tính lên lý tính, từ trực quan tới khái niệm trừu tượng và ngược lại, đồng thời mở ra cách giải quyết chúng bằng phương pháp tổng hợp biện chứng, thực sự là một cuộc cách mạng trong nhận thức luận. Mặc dù Kant chưa giải quyết được triệt để vấn đẻ, nhưng những van dé mà ông đặt ra là nén tảng và điểm xuất phát của triết học Đức sau nảy. Đặc biệt, nó đã mở đường cho Hêghen và củ C.Mác đi tới phương pháp nhận thức biện chứng sự phát triển của sự vật trong thể giới khách quan: phương pháp từ Irừu lượng đến cụ thé Thoạt nhìn có thể khó nhận ra sự ảnh hưởng của triết học có điển Đức, đặc biệt là triết học Kant, đối với sự hình thành va phát triển của Lý thuyết kiến tạo. Boi vi hệ thống triết học của Kant rat đồ sộ.
phong phú, đa lĩnh vực, phức tạp va mâu SUTH Pham Thị Tú Hanh Trang 16 thuần. Nhưng xét vẻ một số khía cạnh cụ thé liên quan trực tiếp tới van dé trực quan, thi tư tướng tiến bộ của ông chính là một trong những cơ sở hình thành Ly thuyết kiến tạo. Triết học duy vật biện chứng: Triết học Mác - Lénin đã chỉ rõ: nhận thức của con người là hình ảnh của thể giới bên ngoài, phản ánh sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Nhưng đó không phái là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp hoàn toàn; quá trình này là một chuỗi những sự trừu tượng, những sự cấu thanh va những sy hình thành các khái niệm.
Nhận thức cam tính chính là nhận thức trực quan. Triết học Mác - Lénin cho rằng: nhận thức trực quan được bắt đầu tir tổn tại, từ thé giới bên ngoài, lấy thế giới vật chất làm đối tượng. coi vật chất là tat cả những gi tôn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người. Mác và Angghen khẳng định: “Ti duy của con người chỉ được nảy sinh trong quá trình tác động (là quá trình hoạt động) vào tôn tại, là kết quả của quá trình dé”.
Như vậy, về nguồn gốc, bản chất và trong phạm vi bao quát nhất, hoạt động nhận thức gin lién với thực tiển, hoạt động thực tiễn chính là hoạt động nhận thức cảm tỉnh của con người. Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, các hình ảnh cảm tính mà chủ thé thu nhận được về đối tượng mới phù hợp với ban thân đổi tượng đó; nói cách khác, mới đảm bảo tính chân thực của hình ảnh cảm tính trong nhận thức thế giới. Dựa trên quan điểm đó, Lénin đã tổng kết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến ave ign đó là con ans biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức tt lại net khách ti quan.” Tổng kết nay của Lénin đã trở thành một cơ sở vững chắc cho nhiều ngành khoa học; đặc biệt là Lý luận dạy học, Giáo đục học, Tâm lý học,. Lý thuyết kiến tạo cũng được hình thành vả phát triển dựa trên những thành tựu đó của triết học duy vật biện chứng.
Cơ sở Tâm lý học: Jean Piaget với thuyết mâu thuẫn nhận thức xã hội đã cho rằng: Trong khi tương tác cùng nhau, mâu thuẫn nhận thức xã hội xuất hiện đã tạo ra sự mat cân bảng vẻ nhận thức giữa mọi người. Các cuộc dau tranh diễn ra liên tục va được giải quyết. Trong quá trình đó, những lý lẽ, lập luận chưa đẩy đủ sẽ được bé sung, điều SITH: Phạm Thị Tủ Hanh Trang 17 Luận văn tot nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Văn Vĩnh chỉnh.
Như vậy, học là một quá trinh xã hội. trong quá trinh dé, con người liên tục đầu tranh giải quyết các mâu thuẫn nhận thức. Trọng tâm phát triển nhận thức của Piaget đã nhân mạnh đến một quá trình ma qua đó, con người nghiên cứu, khám phá, và phát hiện lại ý nghĩa trong thé giới của mình. Mặc dù Piaget thừa nhận tằm quan trọng của các yếu tế xã hội, đặc biệt la của bố mẹ vả bạn bẻ trong quá trình nhận thức, nhưng lý thuyết của ông vẫn tập trung vảo các cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường xung quanh.
Ông cho rằng trẻ tích cực tìm kiếm thông tin và lảm cho thông tin phủ hợp với sự hiểu biết về thực tế từ những kinh nghiệm của bản thân chúng. Trẻ tổ chức sự hiểu biết của chúng thành những cấu trúc ngảy cảng phức tạp gọi là các sơ đồ. Trẻ có nhiều sơ đồ khác nhau và các sơ đỗ này thay đổi khi trẻ phát triển. Theo nghiên cứu của Piaget vẻ cấu trúc của quá trình nhận thức thì trí tuệ của học sinh không bao giờ trống rỗng và nhận thức của con người ở bắt cứ cấp độ nào đều thực hiện các thao tác trí tuệ thông qua hai hoạt động đồng hóa và điều ứng.
Sự đồng hóa xuất hiện như một cơ chế gin giữ cái đã biết trong trí nhớ, va cho phép người học dựa trên những khái niệm quen biết để giải quyết tình huống mới. Đó là quá trình chủ thẻ tiếp nhận khách thẻ, tức là chủ thể dùng các kiến thức và ki nang sẵn có dé xử lý các thông tin và tác động bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu nhận thức. Sự điều ứng xuất hiện khi người học vận dụng những kiến thức và kĩ năng quen thuộc để giải quyết tình huéng mới nhưng đã không thành công và để giải quyết tình huống này, người học phải thay đổi, điều chỉnh, thậm chí loại bỏ những kiến thức và kinh nghiệm đã có. Khi tình huống mới được giải quyết thì kiến thức mới được hình thành và được bổ sung vào hệ thống kiến thức đã có.
Như vậy, quá trình nhận thức của người học về thực chất là quá trình người học xây dựng nên những kiến thức cho bản thân thông qua các hoạt động đồng hóa và điều ứng các kiến thức, kĩ năng đã có để thích ửng với môi trường học tập mới. Đây chính là nén tảng của lý thuyết kiến tạo trong dạy học. Tâm lý hoc Vygotsky: (Vư -s5f -xk:3 Vygotsky đã lập luận rằng. các hoạt động thần kinh bậc cao bắt đầu trong các hoạt động bên ngoài và các hoạt động này dần dan được tải tổ chức va tiếp thu.
Ông đưa ra khái niệm vùng phát triển gần kề như một cái khung mà thông qua đó việc học tập va phát triển gặp nhau. Vùng nảy là "khoảng cách giữa mức độ phát SITH Phạm Thị Tủ Hanh Trang 18 Luận văn tot nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Văn Vinh triên thực tê, được xác định bởi kha năng giải quyết van dé độc lập với mức độ phat triển tiém năng, được xác định bởi khả năng giải quyết van dé đưới sự hướng dẫn của người lớn hay phối hợp với các bạn có khả năng hơn”. Học tập trong vùng phat triển gan kẻ bắt đầu tổ chức lại và tiếp thu vào năng lực phát triển sẵn có, do vậy được tỏng hợp thành một mức độ liên thông thần kinh mới cao hơn.
Day học can phải thay được sự phát triển của trẻ. Nếu các hoạt động dạy học được tổ chức trong vùng phát triển gan nhất, được đặt trong một môi trường kích thích tết thì có thể chuyển người học sang vùng phát triển tích cực; trong vùng này người học đã có thể thực hiện được các chức hoạt động nhận thức một cách chủ động, tự lập. Vygotsky cho rằng khả năng nhận biết ra khái niệm không phải từ ngoài du nhập vào trẻ, mà trước hết đòi hỏi trẻ phải có đủ phong phi các khái niệm chin chăn, vì có cải này mới có cái kia. Lúc đầu có các khái niệm sinh hoạt, rồi sau mới có hệ thống ban đầu các khái niệm khoa học; do đó cái sau mới thay đổi và sắp xếp lại các khái niệm sinh hoạt.
Vygotsky phé phán quan niệm cho rằng trẻ lĩnh hội khái niệm chỉ đơn thuản là tiếp nhận chúng dưới dạng có sẵn với sự suy nghĩ và lĩnh hội, không thấy mỗi khái niệm trong đầu trẻ có cả một lịch sử của nó, nó cũng hình thành, phát triển,. Phải hiểu ở đấy diễn ra cả một loạt hành động tư duy phức tạp thực sự, chứ không phải là một kĩ xảo trí tuệ máy móc. vấn dé trung tâm của tâm lý học giảng dạy chính là làm sao cho trẻ tự nâng cao khả năng hợp tác với người lớn lên trình độ cao hơn của các khả năng trí tuệ”, tức là toàn bộ ý nghĩa của giảng dạy là làm cho trẻ phát triển, giảng dạy là một nguồn chủ yếu phát triển các khái niệm ở trẻ, giảng dạy là một lực lượng mạnh nhất định hướng cho quá trình phát triển, quyết định toàn bộ sự phát triển trí tuệ của trẻ; các khái niệm khoa học (chức năng tâm lý cao) phải từ khái quát các loại hình khái niệm sơ khai, thấp hơn ma ra, chứ không phải từ ngoài áp đặt vào đầu trẻ. Chính vi vay, theo ông, trong một lớp học, cẩn coi trọng sự khám phá có trợ giúp hơn là sự tự khám phá.
Từ đó cần rút ra một nguyên tắc là dạy học cân tổ chức cho học sinh học tập với sự trợ giúp, hỗ trợ của bạn học; học tập cùng nhau sẽ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn. Đối với Vygotsky, mọi kiến thức từ quan trọng nhất đến nhỏ nhặt nhất, đều được tạo dựng lên về mặt xã hội. một người lớn đọc một câu chuyện nào đó N SUTH: Phạm Thi Tú Hanh Trương Đại-Hoc Su-f*ha Trang 19 TP. HÓ-CHI-MINH Luận văn tot nghiệp GVHD: Th.
Nguyễn Văn Vĩnh cho đứa trẻ nghe hoặc chỉ cho trẻ cách làm bài tập vé nha; đứa trẻ sẽ tiếp thu những đặc điểm cơ ban của lời nói đó; dần dẫn, đứa trẻ có thé thực hiện độc lập những hoạt động mà trước đó phải có sự kèm cặp của người lớn. Ông luôn nhân mạnh: văn hóa. ngôn ngữ và các tương tác xã hội tác động đến việc kiến tạo tri thức của mỗi cá nhân, Paul Emest đã dựa vào quan điểm của Piaget và Vygotsky phân chia kiến tạo thành hai loại: kiến tạo cơ bản và kiến tạo xã hội (sẽ được trinh bảy trong mục 1. Tâm lý ôi phát sinh: Các tác giả Perret - Clermont, Schubuer, Leoni,.
thông qua nghiên cứu sự phát triển xã hội của trí thông minh đã chứng tỏ rằng, sự giao lưu xã hội giữa các cá nhân đã day nhanh sự tiến triển của các cấu trúc nhận thức ở người học.